Image default
Luận Giải & Nghiên Cứu Phật Học

Những Đặc Điểm Tư Tưởng của Phật Giáo Nguyên Thủy, Bộ Phái và Đại Thừa

Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, theo thời gian Đạo Phật đã có sự chuyển biến và đổi thay. Kết quả là sự phân hóa từ Phật giáo Căn bản hay Nguyên thủy thành Phật giáo Bộ phái và Phật giáo Đại thừa sau khoảng thời gian kể từ khi Đức Phật nhập Niết bàn. Sự phân hóa này không đơn thuần là sự chia rẽ, mà là quá trình tư tưởng giáo lý của Phật pháp thích ứng với từng thời đại, từng xã hội và từng căn cơ của con người.

Đạo Phật ra đời cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ tại đất nước Ấn Độ, dưới sự khai mở qua việc chứng ngộ của một nhân cách lịch sử – Đức Phật Thích Mâu Ni. Từ những nền tảng này, Phật giáo qua nhưng giai đoạn áy có những đặc điểm tư tưởng gì mới lạ so với buổi sơ khai, đây chính là trách nhiệm của người học Phật cần phải tìm hiểu trên bình diện khách quan nhất, để tránh đi vào sự nhầm lẫn như một số nhận định được cho là không mấy tích cực về Phật giáo qua sự phân hóa này.

Theo cá nhân người viết, tìm hiểu về những đặc điểm tư tưởng của Phật giáo Nguyên thủy, Bộ phái và Đại thừa, chính là tìm hiểu về cội nguồn của Phật giáo. Từ những nguồn tư tưởng này sẽ giúp khai mở cho mỗi cá nhân người học Phật có cái nhìn khách quan đối với Đạo Phật, để rồi ứng dụng những lời Phật dạy vào đời sống tu tập cũng như hành đạo của mỗi người theo một cách tích cực và thiết thực nhất.

Đặc Điểm Tư Tưởng của Nguyên Thủy Phật Giáo

Phật giáo Nguyên thủy ra đời xuất phát từ sự khủng hoảng của nền triết học và tôn giáo, từ các vấn đề nhân chủng học, cho đến các vấn đề phát triển kinh tế – nông nghiệp, cách mạng trong cơ cấu chính trị, và hệ thống tư tưởng triết học tại Ấn Độ. Đây là những nguyên nhân chính đưa đến sự ra đời của Phật giáo Nguyên thủy. Do vậy, Phật giáo Nguyên thủy ra đời không phải xuất phát từ sự ngẫu nhiên, không phải ra đời như một tôn giáo cứu thế, hay là do sự mắc khải nào, mà Phật giáo ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội và nhu cầu của con người.

Tinh Thần Thiết Thực Hiện Tại

Trong kinh Trung Bộ, Đức Phật đã dạy: “Giáo pháp của Ta là thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, không có thời gian, có khả năng hương thưởng, được người trí tự mà giác hiểu”. Đây là tinh thần cực kỳ quan trọng không chỉ ở Phật giáo Nguyên thủy mà của cả Đạo Phật. Tinh thần này được thể hiện qua ba đặc điểm:

Thứ nhất, mục đích thuyết giáo của Đức Phật không phải để giải thích hay lý luận về thế giới, nhân sinh để thỏa mãn yêu cầu của khoa học và triết học, mà mục đích của Đức Phật là chỉ ra khổ và con đường diệt khổ. Do đó, những vấn đề nào không trực tiếp đưa đến giải thoát, Niết bàn, dù vấn đề đó được người đời sùng bái, thì Đức Phật thường không chú ý đến.

Thứ hai, giáo lý của Đức Phật luôn đứng trên lập trường và hiện trạng thực tế để giảng dạy. Do đó, Đức Phật được ví như một vị lương y, tùy bệnh mà cho thuốc, và Ngài luôn tìm hiểu rõ nguyên nhân bệnh trước khi tìm phương thuốc thích hợp. Thí như người tham nhiều thì quán bắt tái tính, người sân si thì quán tự bi, cực cắn thô lỗ thì quán hỷ xả… Và giáo lý của Ngài không mang tính giáo điều, hình thức, hay mê tín; giống như người trúng mũi tên độc, công việc đầu tiên là phải nhổ tên ra, rồi bằng bó vết thương mà không phải chấn chỉ đi tìm những nguyên nhân của nó.

Thứ ba, trong giáo lý của Phật giáo Nguyên thủy luôn cảnh giác với mỗi tranh biện, vì ở đâu có tranh luận thì ở đó sẽ có khổ đau. Vì lý do đó, Đức Phật cảnh giác mỗi người trách đi vào những vật xe đó của các nhà triết gia ngụy biện đường thời, vì sợ học mà mê lý luận mà quên đi thực tế. Nhiệm vụ chủ yếu của Phật pháp là mở ra con đường giải thoát; giáo pháp này luôn đầy đủ hai phương diện quan trọng: triết học và tôn giáo; lý luận và thực tế.

Phương Pháp Kháo Sát

Phương pháp thứ nhất, Đạo Phật lấy nhân sinh làm trung tâm để kháo sát vũ trụ, nghĩa là Đạo Phật lấy chân tượng của vạn pháp, đặc biệt là con người làm đối tượng nghiên cứu, để tìm ra chế quy hương tới cao của con người, tức sự thành lập và hoạt động của con người, hay sự vận hành của ngũ uẩn… Đối với các hệ triết học tôn giáo, con người là do thần linh tạo ra, nhưng với Phật giáo thì không như vậy: “Con người là thần ngũ uẩn có sắc, thọ, tưởng, hành, thức; trong đó sắc là tứ đại, giữa nội sắc và ngoài sắc không tách rời nhau”, và “Người là chủ nhân của nghiệp, là kế thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, là quyền thuộc”. Do đó, vị trí của con người là tối thượng, mỗi quan hệ giữa con người và vũ trụ là bất ly; và quan sát con người chính là quan sát vũ trụ, mà trong kinh Tương Ưng Đức Phật đã dạy: “Ta nói trong tâm thân một trường này, thế giới, nguyên nhân thành lập thế giới, sự hoại diệt thế giới và con đường đưa đến sự đoạn diệt thế giới”. Chính lẽ đó, Pythagorasa một nhà triết gia bậc Thánh của Ấn Độ từng nói: “Chỉ một lần xuất hiện trong cuộc đời này, Đức Phật đã thành hóa cuộc đời”.

Phương pháp thứ hai của Phật giáo Nguyên thủy là kháo sát Đúng như tật; hay gọi là Như thị (Yathatatha): nhìn các pháp Như thị, Đúng như thực (Yathabhutam): đúng như cái hiện có, mà không phải khoác lên đó một cái hình tưởng nào khác. Quan sát sự vật đúng như thực là phương pháp khế hợp chân lý. Thông thường được mệnh danh là Bát Nhã (prajna), hay Vija (Minh) và Panna (Tuệ): đây là trí tuệ cao nhất trong Phật giáo, chỉ cái tuệ này mới là trí tuệ thấy được bản chất của sự việc, thấy được cái chân như (tathata) của các pháp, không phải chân như (aviathata), tính bất biến (anananathata) và pháp tính (dhammata).

Mục tiêu của Phật giáo là làm thế nào để có tuệ, vì chỉ có tuệ này mới thấy được sự thật của các pháp. Nếu thấy con người đúng vị trí của nó, thấy bản chất của pháp, vốn là duyên sinh vô ngã, cái đó gọi là tuệ. Làm thế nào để có cái tuệ đó? Thì chỉ có thiền định. Như vậy trong tuệ có thiền định, và muốn có định phải có giới. Cho nên dù môn phái nào, dù giáo lý nào đi nữa thì ba pháp này đều được gắn chặt. Đặc biệt, trong Phật giáo Nguyên thủy, Giới – Định – Tuệ được Đức Phật dạy trong kinh Đại Bát Niết Bàn, hay kinh Du Hành trong tập A Hàm thì thuật ngữ này đã được Ngài nhắc đến tám lần, nên vô cùng quan trọng. Đây là phương pháp của Phật giáo Nguyên thủy.

Lấy Pháp Làm Trung Tâm

Đối với Đạo Phật, Pháp là cao nhất, là trung tâm của vũ trụ mà không phải là Đức Phật. Pháp là nguyên tắc chi phối mỗi chuyển sinh diệt của tất cả vạn hữu, mà không phải do thần thánh hay bất kỳ ai tạo ra. Mục đích quan sát thế gian của Đức Phật chính là tìm ra cái nguyên tắc thường hằng bất biến hay pháp (Dhamam), cái pháp tắc thống nhất hết thảy mỗi hiện tượng trong thế gian. Nguyên tắc đó chính là nguyên tắc của Duyên sinh hay Duyên khởi. Chính nguyên tắc này, sẽ đưa con người đặt đến lý tưởng tối cao là giác ngộ giải thoát, mà trong kinh Trung Bộ Đức Phật đã dạy: “Ai thấy Duyên khởi là thấy pháp. Ai thấy Pháp là thấy Phật (Ta)”.

Số dĩ, Phật giáo Nguyên thủy lấy pháp làm trung tâm, loại bỏ chủ thể thần, vì tất cả các pháp là do tâm thức của con người tạo ra. Và Phật giáo quy nạp cái pháp cho nhân giới, một mặt pháp tự thân là chủ nhân và con người là thể nghiệm; đồng thời Phật giáo Nguyên thủy cũng xác định con người là chủ thể của pháp, vì chính con người là đối tượng thể nghiệm pháp. Đức Phật không chỉ dạy rằng: “Sau khi ta nhập diệt, các ngưỡi hãy lấy giới và luật để nương tựa” mà chính Đức Phật cũng phát biểu: “Pháp này hã không do Ta chứng ngộ sao? Tại sao Ta không tôn sùng và lấy nó làm nơi nương tựa”. Như vậy, Đức Phật được tôn xưng là bậc giác ngộ cũng vì Ngài đã quán triệt và tuân thủ vào nguyên tắc này, Ngài cũng tôn sùng và nương tựa nơi pháp.

Quan Điểm Tôn Giáo

Quan điểm thứ nhất là để cao trách nhiệm cá nhân: Đạo Phật luôn để cao vai trò trách nhiệm ở mỗi cá nhân, và Đức Phật không bao giờ nghĩ mình là người điều khiển Tăng giã. Khi Devadata đến xin Ngài để lãnh đạo Tăng giã, Đức Phật dạy rằng: Tăng giã tự lãnh đạo chính mình, và mỗi cá nhân phải tự trách nhiệm với chính mình. Và chính Đức Phật cũng không muốn ai phụ thuộc vào Ngài, vì giáo lý của Đức Phật không có lý thuyết huyền bí, không có gì được giấu giếm trong nắm tay của Ngài. Ngài luôn ngả bàn tay, chỉ bày cho hết thảy chúng sinh, không giữ lại cái gì, “…những gì lợi ích cho chư thiên và loài người Ta đã làm xong.” (Trung Bộ) Do vậy, trước khi nhập vào Niết bàn, Ngài đã dạy: “Sau khi Ta diệt độ hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi. Nương tựa mình và nương tựa Pháp”.

Quan điểm thứ hai là để cao tự do tư tưởng: Điều đó được thể hiện rõ trong kinh Du Hành và Đại Bát Niết Bàn, trước khi nhập diệt Đức Phật đã hỏi: “Nay các Tỳ kheo, giờ Niết bàn Như Lai sắp đến. Ai còn nghi ngờ gì về giáo pháp, ai còn lo lắng gì về giáo pháp thì hãy hỏi Như Lai”. Ngoài ra, tinh thần này còn thể hiện một cách phóng khoáng và tự do hơn qua bài kinh Kalama: “Thưa Thế Tôn, không biết Ngài sẽ truyền giáo lý nào nhưng thông thường vị giáo chủ đến sau hay chê bai vị giáo chủ đến trước và cho giáo pháp của mình là hay hơn cả”. Đức Phật trả lời: “Nay các Kalama, các người nghi ngờ là đúng, nghi ngờ điều đáng nghi ngờ; các người chỉ trích là đúng, chỉ trích điều đáng chỉ trích. Nay các Kalama, đừng tin những gì vì lời đón, đừng tin những gì nghe người khác nói lại, đừng tin những gì có vẻ đúng với sự thật, đừng tin những gì do thầy các người chỉ dạy, cũng đừng tin những gì do người xưa để lại…Khi nghe bất cứ giáo lý gì, hãy ứng dụng vào đời sống. Nếu thấy vô nghĩa, không mang lại lợi ích thì hãy loại bỏ giáo lý đó. Nhưng khi ứng dụng mang lại lợi ích cho mình và cho người thì hãy tin vào giáo lý đó”. Trong kinh Tự Sát thuộc Trung Bộ kinh, Đức Phật cũng đã dạy: Muốn biết Như Lai có thanh tịnh hay không, hãy quan sát Như Lai trong năm căn của Ngài, các pháp bất tịnh có khởi lên hay không, khởi lên nhiều hay ít, dài hay ngắn. Có thể nói rằng, tinh thần tự do tư tưởng chỉ có ở Đạo Phật, và trong Đạo Phật không có vùng cấm cho sự tự do đó.

Quan điểm thứ ba là Nhân duyên luận: Đây là cái đột phá của thời đại, khác với tất cả các triết thuyết Thần Ý luận, Định Mệnh luận, Ngẫu nhiên luận, Phật giáo cho rằng tất cả là do nhân duyên. Phật giáo đã chủ trương Trung Đạo: tránh xa hai cực đoan: Hưởng thụ dục lạc (hệ quả của Học chủ nghĩa vật chất hay chủ nghĩa đoạn diệt), và khổ hành ép xác (hệ quả của thuyết linh hồn bất tử hay thường hằng). Nghiệp do duyên mà sinh.

Những đặc điểm tư tưởng của Phật giáo Nguyên thủy thể hiện qua giáo lý cổ xưaNhững đặc điểm tư tưởng của Phật giáo Nguyên thủy thể hiện qua giáo lý cổ xưa

Đặc Điểm Tư Tưởng của Phật Giáo Bộ Phái

Bộ phái Phật giáo ra đời trong khoảng thời gian từ 100-110 năm sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, tức sau kỳ Đại hội kết tập lần hai. Sự ra đời của Phật giáo Bộ phái xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Thứ nhất, Tăng đoàn không có sự lãnh đạo tối cao; thứ hai, vấn đề chuyên môn hóa các ngành văn điển Pali; thứ ba, sự xuất hiện các bậc thầy danh tiếng trong tăng đoàn; thứ tư, độ cao những khuynh hướng tu tập; thứ năm, hiện tượng cát cứu lãnh địa do nguồn lợi kinh tế.

Đặc biệt nhận mạnh ngoài giới, tức là thực tại. Giữa sắc và tâm, các Bộ phái đều cho là giống nhau, Bộ phái Phật giáo lấy ngoài giới thực tại làm chủ để đi tiềm cái tâm. Lấy sắc làm lập cứcở để phân tích về con người, con người cấu thành là do sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Phật giáo Bộ phái phân tích yếu tố vạn hữu và cũng rất coi trọng giáo lý Duyên khởi. Thời kỳ Bộ phái là thời kỳ sản sinh ra vô số bộ luận quan trọng. Mỗi bộ luận phân tích một vấn đề để được thụ. Những bộ phái Phật giáo tạo sự khác nhau với Nguyên thủy, lấy nền tảng của Nguyên thủy phân tích những yếu tố hữu hạn, thích thuật coi trọng phân tích đó. Từ đó, giáo lý Phật pháp tương vân đề được các Bộ phái chuyên môn hóa, phân tích một cách chi li.

Đối với công hành của Bồ Tát, Bộ phái Phật giáo cho rằng hành tu của Bồ Tát là công hành của Phật ở quá khứ và hiện tại, chủ yếu không phải người thường là để tự Phật có thể so sánh. Do đó, công hành Bồ Tát không liên quan đến chúng ta. Bồ Tát danh hiệu được dùng trong thời gian tìm đạo của Phật (Nikaya).

Theo Phật thân luận: Bộ phái chủ trương trong thế gian này không có hai Đức Phật xuất hiện cùng một lúc. Phật là một nhân vật đặc biệt, không thể so sánh, và dù có nỗ lực tu hành thì cũng không được như Ngài. Do đó, theo Phật giáo Bộ phái, quả vị tối cao trong quá trình tu chứng là A La Hán, và lấy A La Hán làm lý tưởng tối cao.

Bên cạnh đó, Bộ phái Phật giáo vì quá tôn sùng nhân cách cao cả của Đức Phật, cho Đức Phật là một bậc xuất thế, cao siêu, người thường không thể sánh bằng; cho nên người tu theo Phật chỉ được xem là đệ tử Phật. Đây là điểm rơi vào hưởng thiên, gọi là Phật Đại luận, tục luận về Đức Phật. Nếu trong Phật giáo Nguyên thủy, Đức Phật là một con người lịch sử thì qua Bộ phái Phật giáo, Đức Phật đã biến đổi thành con người huyền sủ, trở thành đối tượng để cầu nguyện chứ không phải để theo tu học.

Số dĩ, Bộ phái Phật giáo được xem là Tiểu thừa Phật giáo vì Bộ phái này chỉ chú trọng vào sự giải thoát của cá nhân, xem nhẹ việc độ tha. Các Bộ phái Phật giáo chỉ mải mê tranh luận về giáo lý cao thấp, để cao hình bóng người xuất gia hoặc để cao tứ đó, tứ giải thoát. Lúc này, lý tưởng A La Hán chỉ còn xuất hiện trong đội ngũ Tăng giã nên tạo ra khuynh hướng tiêu cực. Chính vì thiếu sự hoạt động cứu thế này, Bộ phái Phật giáo đã không thể tiếp xúc trực tiếp để duy trì và hướng dẫn cho họ. Chính điều này dần đưa Phật giáo vào con đường cùng, đánh mất đi lý tưởng tự giác và giác tha, là một trong những điều then chốt của lập trường cứu thế trong Phật giáo.

Mặt khác, đối với những xu hướng tiến bộ và tinh thần hoạt động không ngừng của thời đại, Bộ phái Phật giáo đã không có được sự thích ứng thỏa đáng. Vì lý do đó, đòi hỏi Phật giáo cần phải có một khuynh hướng tư tưởng mới ra đời, gọi là Đại thừa Phật giáo. Kết quả của cuộc vận động này đưa đến sự kết tập các kinh điển Phương Đông của Phật như: Pháp Hoa, Bát Nhã, Duy Ma, Thắng Mantra…

Đặc Điểm Tư Tưởng của Phật Giáo Đại Thừa

Bộ phái Phật giáo ra đời trên nền tảng sự kế thừa của Phật giáo Nguyên thủy; từ nền tảng đó, Bộ phái Phật giáo đã có nhiều đóng góp tích cực cho xã hội, cũng như nguồn tư tưởng – triết học Ấn Độ. Tuy nhiên trong quá trình phát triển, Phật giáo Bộ phái đã biểu hiện một số hạn chế như: xa rời quần chúng nhân dân khi chỉ chú trọng vào chủ nghĩa xuất gia; đánh mất đi diễn đàn tôn giáo ở xã hội do trong nội bộ Phật giáo lúc này đã xuất hiện nhiều bộ phái, cũng như nhiều bộ luận ra đời nên dẫn đến sự tranh luận nội bộ, từ đó dẫn đến sự cô lập trong Phật giáo, mặt khác bị một số tôn giáo khác lấn áp…

Cho nên, Phật giáo cần phải sự thay đổi, cần phải có những bước chuyển biến mới trong tư tưởng, cũng như cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội cũng như con người bây giờ. Với lý do đó, Phật giáo Đại thừa ra đời.

Đại thừa Phật giáo ra đời lấy việc cứu độ chúng sinh làm lý tưởng tối cao của mình. Vì Đại thừa Phật giáo cho rằng tất cả mỗi chúng sinh đều có Phật tính, nên chủ trương bất kể ai cũng có thể thành Phật. Trên tinh thần này, Đại Thừa đã lấy Phật làm lý tưởng và lấy sự trở về với tinh thần Đức Phật làm mục tiêu. Nói cách khác, Đại thừa đứng trên lập trường thâm sâu để khôi phục lại Phật giáo Nguyên thủy.

Theo Tâm luận: Đại thừa Phật giáo chủ trương hết thảy đều do tâm, nhưng ý nghĩa tâm của Đại thừa thâm thúy hơn Nguyên thủy Phật giáo. Vì theo Đại thừa Phật giáo, trong tâm của mỗi chúng sinh có đủ cả Đức tính của Như Lai và cả vô minh phiền não nào, tùy theo cách nó biểu hiện như thế nào mà có mê ngộ, đía ngục, tự tính độ… Với ý nghĩa này, hết thảy hiện tượng đều chỉ là biểu hiện của vọng tâm, và từ đó hết thảy đều không. Diệt trừ được vọng tâm thì là làm cho chân tâm biểu hiện, và sẽ thấy được chân tưởng của vũ

Related posts

Nghe Tiếng Chuông Chùa Với Tâm Thanh Tịnh, Giải Thoát Được Tội Nặng Sinh Tử

Administrator

Kinh Cây Ruộng: Ứng Dụng Thực Tiễn Vào Con Đường Tu Tập

Administrator

Huỳnh Thường Tịnh Không nói về Đại Cư Sĩ Lý Bình Nam – Gương Sáng Trên Đường Niệm Phật

Administrator