Mình và của mình chỉ là những âm thanh diễn tả một giả tưởng, không phải một thực thể chân tính. Kể phà phu vô minh có tâm thức mê làm chấp Ngã nên ngộ nhận là thực thể có thực, do đó sanh ra cái dục, tham vọng, chấp thủ và tự tạo cho mình ưu phiền khổ não.
Cái Ngã của Những Người Thân Không Phải Thuộc Riêng Mình
Mình không phải thuộc riêng mình và những người thân cũng không thuộc riêng mình. Nói cách khác, không có cái Ngã nào thuộc riêng mình, kể cả tự mình và những người thân của mình. Mình và của mình chỉ là những âm thanh diễn tả một giả tưởng, không phải một thực thể chân tính, kể phà phu vô minh có tâm thức mê làm chấp Ngã nên ngộ nhận là thực thể có thực, do đó sanh ra cái dục, tham vọng, chấp thủ và tự tạo cho mình ưu phiền khổ não.
Bất cứ một người thân nào có liên hệ dưới hình thức nào cũng không phải thuộc riêng mình. Cha mẹ mình lệ thuộc vào bao nhiêu người khác: Cũng là cha mẹ của anh chị em mình, một thành phần trong tập thể gia đình, gia tộc, một công dân, một phần tử trong cộng đồng nhân loại. Cha mẹ mình không thể nào dành trọn cuộc sống, đổ hết tâm tư và thời giờ để liên hệ với riêng cá nhân mình, không còn biết đến ai khác nữa. Người con yêu thương cha mẹ là do lòng hiếu thảo nhưng khỏi niệm độc chiếm cha mẹ dành riêng cho mình là sự mê làm của tâm vô minh. Trường hợp những người thân khác cũng vậy như liên hệ giữa vợ chồng, hộ hàng con châu, anh chị em, chú bác cô dì, bạn hữu.
Đồng bào cùng tu tập Phật giáo khám phá bản chất của ngã thức
Tóm lại, trong loại Nhân Vô Ngã, cái Tự Ngã của mình và cái Ngã của tha nhân đều là giả tưởng không có thực thể. Người con Phật tắc tỉnh thức không phải chỉ sống cho mình một cách riêng biệt, phải hòa mình vào nếp sống của mỗi người, đồng thời không chấp vào vọng niệm tin là người thân của mình chỉ sống cho riêng mình, không quan tâm vì dành thì giờ sống cho nhiều người khác nữa, không độc chiếm người thân. Trong lúc yêu đương, trai gái thường thốt nên lời nói với nhau là người yêu duy nhất. Đây chỉ là lời mỹ thực là lòng, chân tình trong lúc bồng bột đúng với cảm thức chợt thốt ra ở cửa miệng.
Đây không phải là lời nói đúng với bản thể chân tính ở con Người, không đúng với Tâm Tĩnh Lạc của người đã thực chứng lý Vô Ngã. Nói cách khác, đây là lời nói ứng hợp đúng với tâm thức kể chấp vào Giả Ngã, Vọng Ngã nhưng không ứng hợp đúng với tâm thức người giữ Chính Niệm sống với Chân Ngã, Đại Ngã. Người thực chứng lý Vô Ngã không phải phủ nhận sự sống với chính mình mà chỉ chuyển hóa rồi bỏ Vọng Ngã để sống trên vận với Chân Ngã tức bản thể Thanh Tịnh có sẵn ở chính mình, sống trên vận nghĩa là 100 phần 100 không còn vương vấn chút ít gì với Vọng Ngã. Do đó, Chân Ngã còn có danh xưng là Đại Ngã, Ngã Ba-la-mật.
Trong loại Pháp Vô Ngã sự quán chiếu như sau: Bất cứ pháp hữu vi nào tức vật gì hay sự kiện gì xuất hiện xảy ra đều có tự tính không. Đó là nội dung câu Vạn pháp giai Không. Hiện tượng do con người cảm nhận được chỉ là giả tưởng là cái có không thực, nhân duyên hội lại thì thấy có, nhân duyên tán ra thì thấy không, đó là lý Sắc-Không.
Thái Độ của Người Tỉnh Thức Đối Với Lý Vô Thường, Vô Ngã
Hiểu biết sâu sắc về tự tính không giúp ta vượt qua khổ đau
Thái độ của người tỉnh thức đối với lý Vô Thường, Vô Ngã khi quán thấy Nhân Duyên lúc hội lúc tán, khi sanh khi diệt, Có đấy lại không đấy là điều ứng lý Tùy duyên: Duyên hội thì kết, duyên tán thì liễu, không bao giờ phan duyên. Câu này diễn nghĩa người thông suốt lý Pháp Vô Ngã thấy cơ duyên đến thì suy ngẫm nếu là thiện duyên, hạ hành duyên thì giữ lại, ứng dụng sanh lợi cho mình và cho tha nhân, nếu là chướng duyên, nghịch duyên bất lợi cho mình, cho người thì rời bỏ. Trường hợp duyên đã hội kết đến một thời điểm nào đó duyên hết, rã tan thì chấm dứt kết liễu việc ứng dụng để tránh thiệt hại cho mình, không bao giờ nếu kéo luyến tiếc một khi cơ duyên đã hết không còn nữa. Đó là thái độ tự tại của người tỉnh thức.
Để sáng tỏ lý Pháp Vô Ngã, ta lấy ví dụ cụ thể: Giọt nước có tự tính không, danh xưng gọi là Nước chỉ là giả tưởng, sự hội lại của hai khí Hydro và khí Oxygen. Khi duyên hội kết lại với nhau thì có nước, khi duyên tách rời nhau thì không có nước. Âm thanh thốt ra ở cửa miệng nước chỉ là giả danh không thực. Ngay cả danh xưng gọi là Nước cũng thay đổi theo lý Vô Thường: Nước ở thể lỏng, gặp khí nóng bốc hơi bay lên cao tụ lại thành Mây. Mây trên cao gặp khí lạnh tụ lại thành Giọt mưa trở lại thể lỏng, gặp khí lạnh xuống thấp thì thành Tuyết, thành Băng. Vô Thường và Vô Ngã là hai lý đương nhiên của Vạn pháp có liên hệ mật thiết với nhau, không có sự vận hành riêng rẽ.
Thực Chứng và Diễu Dưỡng Lý Vô Thường, Vô Ngã
Vạn pháp Vô Thường và Vô Ngã, con người phải ứng xử ra sao để sinh tồn và an lạc? Sau khi thực chứng, con người không phải chỉ dương mặt nhìn khoảnh tay chỉ chịu tráºn để mắc cho cả cảnh ngộ lôi cuốn theo một cách tiêu cực đi về đâu không biết. Con người phải biết hành động tích cực, diễu dưỡng tùy duyên tùy cảnh ngộ để đạt tới điều sơ nguyện. Phật học gọi là lý Tùy Duyên, nói đầy đủ là Tùy duyên diễu ứng hay Tùy duyên diễu dưỡng. Có như vậy con người mới vượt qua hết được chướng ngại, thăng tiến đạt tới an lạc tự tại.
Vận lấy Giọt nước làm trường hợp điển hình dạy chứng: Con người đã diễu dưỡng khai thác Giọt nước Vô Thường Vô Ngã để xây dựng nền văn minh của nhân loại. Đường cơ hơi nước là trường hợp diễu dưỡng chuyển hóa từ thể lỏng sang thể hơi để tạo nên một năng lực bằng cách cho hơi duyên nước lỏng với khí nóng. Con người đã khai thác ứng dụng lý Vô Thường Vô Ngã vận hành ở giọt nước để tạo nên năng lực chạy máy như đường cơ hơi nước ở đầu máy xe lửa, ở tàu thủy. Nước gặp khí lạnh đông thành băng dùng để ướp lạnh thực phẩm.
Đối với hiện cảnh Vô Thường Vô Ngã khi quán vạn pháp, nếu khoảnh tay chỉ chịu tráºn đầu hàng cảnh duyên một cách tiêu cực thụ đạo là trường hợp Cảnh dẫn Tâm, Cảnh sẽ dẫn đến ưu phiền, khổ não; nếu biết Tùy duyên diễu ứng tích cực ứng phó là trường hợp Tâm dẫn Cảnh, Tâm sẽ dẫn đến Thanh Tịnh, An nhiên Tự tại.
Kết Luận: Con Đường Tu Tập Vô Ngã
Thông thường thực tập pháp quán lý Vô Ngã nên khởi đầu từ Nhân Vô Ngã sau đến Pháp Vô Ngã. Quán hình tưởng và sự kiện Giọt nước tan biến vào Đại Dương là một trường hợp điển hình vừa sáng tỏ lý Vô Thường và lý Vô Ngã, vừa nhật quán bao quát cả Nhân Vô Ngã khi coi một giọt nước như một cá nhân con người, Đại Dương là cộng đồng nhân loại và Pháp Vô Ngã khi coi một giọt nước như một sự vật, một hiện tượng trong toàn bộ sinh hoạt hàng ngày của mỗi người.
Qua việc quán thấu Vô Ngã, ta nhận ra rằng sự chấp mình và người, cái ta và cái của ta đều là những giả tưởng vô thực. Con đường tu tập để vượt qua khổ đau không nằm ở việc chối bỏ sự sống, mà nằm ở việc chuyển hóa cách nhìn nhận về bản chất của hiện tượng. Khi hiểu rõ lý Vô Ngã, chúng ta sẽ dần dần bỏ bớt những ràng buộc tâm linh, sống với sự tự tại và an lạc chân thực, không còn bị ảo tưởng cái ta chi phối. Đây chính là con đường dẫn tới Niết Bàn, tới sự giải thoát cuối cùng.