Image default
Phật Học Ứng Dụng

Từ Thiền Định Đến Giác Ngộ: Hành Trình Của Một Vị Phật

Trước khi thành Phật (Buddha), Đức Phật đã học và thành tựu bốn tầng thiền vô sắc ở nơi hai vị thầy Kalama và Rammaputta. Đức Phật bấy giờ được hai vị thầy xác chứng và mời ở lại để cùng dẫn dắt các môn đệ. Đức Phật biết ơn và tạm chối lời mời của hai vị thầy, vì biết bốn thiền vô sắc vẫn chưa phải là giải thoát thật sự. Cuộc hành trình đi tìm giải thoát cần phải được tiếp tục.

Từ Jhana Đến BuddhaTừ Jhana Đến Buddha

Hành Trình Một Vị Phật

Sau khi từ giã hai vị thầy, Đức Phật tự mình khổ hạnh đến khốc liệt để tìm giải thoát. Nhịn ăn, nhịn nước, đứng ngoài giữa mưa nắng, không tắm giặt, loài thú, Đức Phật đều trải qua. Đến cuối cùng, khi thân xác đã khô, tinh thần đã cạn, Đức Phật bất chợt nhận ra có cái gì đó sai lầm. Đức Phật quyết định dừng uy lực cách khổ hạnh bằng cách khát thực mỗi ngày một bữa. Ngài cũng bắt đầu tắm giặt và vận động để có sức khoẻ.

Thân tâm khỏe và sáng lạn, Đức Phật đi đến một gốc cây, hồi tưởng lại trạng thái tâm vắng lặng, an ổn lúc chín tuổi ngồi yên dưới cây Hòng tảo ở quê nhà, khi vua cha làm lễ hạ điền. Đức Phật nhanh chóng đi vào trạng thái tâm an ổn và vắng lặng. Tâm không dao động, có niệm vui và sự mãn nguyện đầy đủ. Một trạng thái tâm không có tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo hối và hoài nghi. Đức Phật nghĩ: Đây có thể là con đường!

Từ trạng thái tâm không dao động, có hỷ, có lạc, có nội tĩnh và vắng mất tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo hối và hoài nghi đó, Đức Phật tiếp tục đi tới. Ngài đi đến trạng thái tâm thứ hai vắng lặng sâu hơn, chỉ có nội tĩnh, hân hoan và mãn nguyện.

Tiếp tục Ngài đi đến trạng thái tâm thứ ba chỉ có nội tĩnh và mãn nguyện. Vẫn không dừng lại, vì thấy còn mãn nguyện là vẫn còn chướng ngại, Đức Phật tiếp tục đi và vào trạng thái tâm thứ tư. Một trạng thái vi tế, vắng lặng, nội tĩnh và đầy uy lực. Ngài an trú trong trạng thái tâm nội tĩnh, vắng lặng, vi tế và đầy uy lực này rất lâu, không thấy một câu uốn hay nguyên nhân câu uốn nào có thể xạ bỏ thêm nữa.

Tam Minh và Giác Ngộ

Dùng uy lực của tâm nội tĩnh, vi tế và vắng lặng này, Ngài hồi tưởng quá khứ của mình, nhân quả của người và nguyên nhân khổ đau cũng như con đường chấm dứt khổ đau thật sự. Ngài lấy lại được ký ức hình ảnh, ký ức cảm xúc, cũng như khám phá bằng tuệ giác tự chứng: khát ái là nguyên nhân của khổ. Khổ có mặt là do khát ái có mặt. Khát ái không có, giải thoát có mặt. Chính kiến và chính tư duy sẽ đưa đến giải thoát sự mê mờ nhận thức (giải thoát tuệ). Chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính精進, chính niệm và chính định sẽ đưa đến giải thoát bất ổn tâm từ (giải thoát tâm).

Thấy được sự thật quá khứ của mình, luân hồi được xác nhận; thấy được sự thật nhân quả của người, nghiệp báo được xác nhận; khám phá bằng tuệ giác tự chứng sự thật về khổ, nguyên nhân của khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ, cũng như trạng thái giải thoát siêu việt khi nguyên nhân của khổ không còn, Đức Phật biết mình thật sự giải thoát. Ngài từ đó gọi mình là Buddha, người trên vạn tỉnh thức.

Bốn trạng thái tâm Đức Phật trải qua được gọi là bốn tầng thiền (Jhana): Sơ thiền, Nhị thiền, tam thiền và Tứ thiền. Ba sự thật Đức Phật khám phá được Ngài gọi là Tam minh: Túc mệnh minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh.

Hành trình của một vị Phật như thế đi từ Sơ thiền đến Tứ thiền, Tứ thiền đến Tam minh và Tam minh đến giải thoát. Hành trình này đã được chính Đức Phật kể lại cho du sư Aggivessana trong Đại kinh Saccaka.

Tầm Quan Trọng Của Jhanas

Jhanas hay bốn tầng thiền sắc giới được ghi nhận trong Kinh tạng (Sutta pitaka) là kém siêu việt hơn bốn thiền vô sắc (arupajhana). Người ta phải đi qua Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền rồi mới đi tới Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sơ hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ngay chính Đức Phật giây phút Niết-bàn, Ngài cũng tuân tự như thế thuận và nghịch nhập Sơ thiền cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, sau đó mới vào Diệt thọ tưởng định và Niết-bàn.

Tại sao Arupajhana (thiền vô sắc) siêu việt hơn Jhana (thiền sắc giới), đều không còn năm triển của sắc, đều có uy lực của nội tĩnh và vắng lặng (nhất tâm và xả) như Tứ thiền, nhưng không đưa Đức Phật đến thành tựu Tam minh và trOn vạn giải thoát?

Tại vì trong thiền vô sắc không có gì ngoài tưởng của ý thức. Cảm thọ không còn trong thiền vô sắc. Năm thức đã đóng lại và ý thức cũng bị khoá chặt trong trong tưởng của chính nó. Không vô biên xứ định không gì ngoài không gian vô biên tự biết ở ý thức. Thức vô biên xứ định không gì ngoài tâm thức vô biên tự biết ở ý thức. Vô sơ hữu xứ định không gì ngoài ý thức tự biết không có gì. Phi tưởng phi tưởng xứ định không gì ngoài vi tế, vắng lặng, phi có phi không của ý thức tự biết. Trong khi minh trí (Tam minh) cần tác ý hướng tâm. Túc mệnh minh và Thiên nhãn minh cần ý thức hồi tưởng để thấy. Lậu tận minh cần ý thức minh sát để chứng.

Chỉ có Tứ thiền đủ điều kiện. Ý thức vắng lặng, vi tế, không dao động, nội tĩnh, không hỷ ưu trước các cảm thọ của Tứ thiền đã cho phép hồi tưởng và minh sát được thực thi. Tam minh thành tựu từ đó. Buddha, bậc tỉnh thức trOn vạn, bậc giác ngộ viên mãn, ra đời từ đó.

Không có Jhana, các tầng thiền, không chỉ không có Buddha, mà còn không có cả A-la-hán và Bát Lai cũng không có. Đức Phật đã không chỉ trực tiếp giáo giới cho Malunkyaputta sự thật này, mà còn khẳng định với Ananda là không thể nào đạt được quả vị thành Bát Lai (nói gì đến hoàn toàn giác ngộ) nếu không có các tầng thiền, cũng giống như không thể nào cắt vào lõi cây mà trước đó không cắt qua phần vỏ cây và gỗ giác.

Từ Hơi Thở Đến Jhana

Vị trí của Jhana tất yếu là không thể thay thế trên con đường trOn vạn giải thoát của một Đức Phật, bao gồm cả vị Bát lai. Đức Phật nói một Tỳ-kheo nếu mong muốn chứng và trú Thiền thứ nhất, thứ hai, thứ ba hay thứ tư, thì định niệm hơi thở vô, hơi thở ra cần phải khéo tác ý (tu tập). Đức Phật cũng cho biết khi chưa thành tựu Chính Đảng giác, trước khi giác ngộ, nhớ trú nhiều với định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, mà thân và con mắt không có một nhặc, tâm được thoát khỏi phiền nào, không có chấp thủ.

Một Phật tử nghiêm túc trong tu học cần phải bắt đầu từ những lời dạy đúng đắn và thiết thực về Jhana và về định niệm hơi thở này. Sự an ổn thân tâm, cũng như thành tựu các Thánh quả sẽ không thể có nếu như Chính định (Jhana) vắng mặt. Con đường Bát Chính Đạo sẽ không còn là con đường giải thoát nữa khi Chính định không có. Minh chứng đẹp nhất cho tầm quan trọng của Chính định (Jhana) là lời khẳng định của Đức Phật: “Tu tập Định (Jhana) đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn cho Tuệ”.

Ngoài khẳng định về vị trí Chính định, Đức Phật còn bi mẫn giáo giới cho một Phật tử có niệm tin: “Này Cunda, đây là những gốc cây, đây là những ngôi nhà trống; Này Cunda, hãy Thiền định, chớ có phóng dã, chớ có hối tiếc về sau.”

Kết Luận

Hành trình từ Jhana đến giác ngộ của Đức Phật không phải là một bước nhảy may mắn, mà là kết quả của sự tu tập bền bỉ và hiểu biết sâu sắc về tâm. Bốn tầng thiền là nền tảng không thể thiếu trên con đường tu hành, là bậc thang giúp tâm từ từ thanh tịnh, sáng suốt để có thể hiểu rõ bản chất của khổ đau và con đường giải thoát.

Đối với các Phật tử Việt Nam ngày nay, việc hiểu rõ vai trò của Jhana cũng như rèn luyện định niệm hơi thở là bước khởi đầu thực tế trên con đường tu hành. Không có định, tâm không thể trong sáng; không có tuệ, con người không thể thực sự giải thoát khỏi khổ đau. Do đó, tu tập Chính định qua Jhana là trách nhiệm của mỗi Phật tử muốn tiến sâu vào đạo Phật.


Tài Liệu Tham Khảo:

  • Trung Bộ Kinh (MN 36)
  • Trung Bộ Kinh, Đại Kinh Malunkya 64
  • Kinh Ngộn Đện, Tương Ưng Bộ (SN 54)
  • Trường Bộ Kinh, Kinh Đại Bát-Niết-bàn, 16
  • Trung Bộ Kinh, Kinh Đoạn Giảm, 8

Related posts

Bốn Hạnh Căn Bản Trong Phật Giáo: Chìa Khóa Để Vượt Qua Khổ Đau và Đạt Giải Thoát

Administrator

Tuệ Giác Phật Giáo: Công Cụ Chuyển Hóa Tâm Để Vượt Qua Khó Khăn

Administrator

Diễu Dưỡng của Thần Chủ Lăng Nghiêm

Administrator