Dịch: Thích Nữ Tịnh Nguyên
Kinh Phật thuyết Đại tịnh pháp môn – bộ kinh Phật giáo về sáng suốt và giải thoát
Nghe rằng một thời, Đức Phật cùng chứng đại Tăng kheo 500 vị, và 8000 Bồ-tát ở nơi Thứu-phong thuộc thành Vương-xá. Tất cả đại thành đều đã đắc pháp môn Tổng-trì, với biển tài vô lượng. Các vị đã kiến lập và phân biệt thành tuệ, thông suốt ba môn giải thoát, có trí tuệ thông suốt cả ba đời không bị chướng ngại, đắc định Tam-muội, không chuyển đổi, có mười lực, vô ưu. Tất cả đều được dạy dỗ.
Bây giờ trong thành Vương-xá có dâm nữ tên Thương Kim Quang Thú Đoan trang đẹp đấy, ai thấy cũng đều thích, hình dáng thon thả, điều bộ sáng rỡ như hoa. Nhờ quả báo đã tu được thuở trước nên thân có tự nhiên có màu vàng rực. Nơi nào có ta đi dạo, ở, nằm, ngủ, đứng, ngồi, kinh hành thì đất nơi ấy cũng đều biến thành màu giống như thân ta, lửa vải mặc trên thân thì tự nhiên chuyển thành màu vàng rộng được vô số người kính trọng. Ai nhìn có cũng ngây ngất không biết chán.
Cô ta nói nặng không cực cần thô thào mà rất nhã nhặn dễ dùng, dung mạo sáng rỡ không tiêu tụy. Trong đại thành Vương-xá ấy dù quốc vương, thái tử, đại thần, trưởng giả, cư sĩ, thanh niên… đều yêu thương có. Họ quyết chí muốn được nhìn thấy có ta, dù đi đến công viên, bộ sông, ngõ háng, giữa rừng họ cũng đi theo. Vô số nam nữ lớn nhỏ đều đi theo sau có ta để ngắm nhìn.
Một ngày nọ, Thương Kim Quang Thú cùng với Ưu Gian con ông trưởng giả mua quà đẹp để tặng nhau, làm những thức ăn ngon mang đến vườn Du-quán, có xe tự mã, cỗ lông, trấn báo, châu minh nguyệt vàng rộng để trang hoàng, trải tờ tốt đẹp, chọn đủ loại hương của hoa Tư-di, theo các kỳ nhạc đến vườn Du-quán để cùng nhau vui chơi. Dẫn đầu đi trước là trống nhạc âm thanh xướng hát, còn đồ cúng dâng thì chọi theo phía sau. Người đi theo nhìn nhiều không thể kể.
Khi ra khỏi tịnh thất, Văn Thù Sư Lợi sanh lòng đại bi thương xót quần sanh, xem người nào có thể chuyển hóa hướng về Đại-thừa mà dùng ba phẩm pháp để làm sáng rỡ đạo, huệ, đó là thần tức biến hóa, thuyết pháp biến hóa, giáo thụ biến hóa rồi hướng dẫn họ vào giới luật.
Thấy Thương Kim Quang Thú kết bạn với Ưu Gian con trưởng giả và cùng ngồi chung một xe đến vườn Du-quán và biết căn nguyện bốn hạnh của cô gái có nhiều phước đức, Văn Thù Sư Lợi nghĩ: “Ta nên hóa độ và giảng pháp chắc chắn cô ta sẽ hiểu rõ thông suốt”. Lập tức Văn Thù Sư Lợi biến thân hóa làm một thiếu niên cực kỳ đẹp đẽ đi trước. Ai thấy cũng vui thích hân hoan, kính chuộng. Dáng vẻ oai vệ rực rỡ choáng cả ánh sáng mặt trời, mặt trăng, dáng kiểu y phục hơn thế gian. Y phục của thiếu niên sáng chiếu cả 40 dặm, từ nơi thân biểu hiện ra các vẻ đẹp theo ý muốn.
Sửa soạn y phục xong, Văn Thù theo dõi con đường dâm nữ đi rồi đứng đợi phía trước con đường ấy. Vừa mới đứng ở trước thì xa mã của con trưởng giả và Thương Kim Quang Thú lập tức bị ánh sáng y phục của Văn Thù che lấp không hiện nữa. Ánh sáng của họ tắt mặt hơn giống như khói mực đen ở bên viền minh châu. Thương Kim Quang Thú thấy Văn Thù Sư Lợi với dung mạo tuấn tú, ánh sáng trên thân rực rỡ giống như vị trời khó sánh nơi, sắc mặt tươi tắn, y phục khác lạ. Vừa thấy vậy, cô nhìn lại mình không lấy làm lạ. Vì tham y phục của Văn Thù, cô suy nghĩ: “Nên xuống khỏi xe của con trưởng giả này, đến cùng chung vui với người kia. Và lại muốn thân mình có ánh sáng và kiểu y phục ấy”. Cô vừa nghĩ xong, Văn Thù Sư Lợi thâu nhiếp oai thần báo Tức Ý Thiên Vương hóa thành nam tử nói với cô gái:
— Thôi! Thôi! Đừng có tâm phóng đãng ấy nữa. Vì sao? Vì người kia không để tâm vào sắc dục.
Cô ta hỏi:
— Vì sao?
Tức Ý Thiên Vương trả lời:
— Vì vị ấy là Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi.
Cô gái lại hỏi:
— Vì sao đặt tên là Bồ-tát? Đó có phải là thiên tử, rộng, quỉ thần, Cần-Đạp-hòa, Ca-lưu-la, Chân-Đà-la, Ma-hưu-lặc, Thích-phạm hay Tức-thiên-vương không?
Tức Ý trả lời:
— Người mà cô muốn biết đó chẳng phải trời, rộng, thần, cũng chẳng phải Thích phạm. Vị ấy gọi là Bồ-tát, vì vị ấy làm thỏa mãn tất cả lời nguyện cầu cho mỗi chúng sanh. Thấy chúng sanh mong cầu điều gì, đều không làm trái ý họ, nên gọi là Bồ-tát.
Cô gái suy nghĩ: “Theo những gì ta được nghe, chắc chắn vị ấy sẽ cho ta y phục tốt đẹp”. Nghĩ thế rồi cô liền xuống xe đến chờ Văn Thù Sư Lợi thưa:
— Thưa nhơn giả! Hãy cho tôi y phục này.
Văn Thù Sư Lợi trả lời:
— Thưa đại tự! Nếu đại tự phát tâm Đạo Vô Thượng Chính Chơn thì tôi mới lấy y phục cho cô.
Cô gái nói:
— Xin vâng! Sao gọi là Đạo?
Văn Thù trả lời:
— Muốn biết thì chính cô là Đạo.
Cô hỏi:
— Thế nào thưa Văn Thù Sư Lợi! Nếu Ngài không giảng rõ và phân biệt nghĩa lý thì tôi không sao hiểu được. Vì sao nói rằng thân của tôi là Đạo?
Bây giờ, Thương Kim Quang Thú nói kệ:
Cúi đầu xin Ngài
Cho tôi y phục
Mới biết rõ Ngài
Thấu sâu Đạo Phật
Như trời không mưa
Hạn hạn kéo dài
Nếu người tham tiếc
Chẳng đúng Bồ-tát.
Văn Thù Sư Lợi nói kệ:
Nếu cô có thể Phát tâm Đạo Phật
Thì ta sẽ lấy Y phục cho cô
Nếu tâm kiên cố Trú vào Ý Đạo
Trên trời thế gian Sẽ đều lơ lảy.
Thương Kim Quang Thú nói kệ:
Như nói về Đạo Lý làm thế nào
Ai là người nói Ai được đắc Đạo
Chỉ hướng đến nghiệp Phải tập thế nào
Để thành Phật Đạo Dạy người chưa ngộ.
Văn Thù Sư Lợi trả lời:
— Đại tự! Nếu muốn biết thì có Như Lai Chỉ Chơn Đạng Chính Giác hiểu Thích Ca Văn hiện đang thuyết pháp, diễn bày sự bình đẳng của thân, đều phương hành theo Đạo. Đại tự nghĩ thế nào? Chẳng lẽ chỉ ta sanh các âm chủng và các nhập sao?
Nhờ hạnh lực đã được sẵn có đã chứa nhóm kiếp trước, nên vừa nghe Văn Thù Sư Lợi nói vậy cô ta đắt được ánh sáng của pháp, và thưa Văn Thù:
— Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như Ngài đã nói, nhờ thân của tôi mà đắt được các nhập và âm chủng.
Văn Thù hỏi:
— Ý của đại tự thế nào? Sắc có đối tượng để niệm, có đối tượng để biết không?
Cô gái trả lời:
— Không.
Văn Thù Sư Lợi nói:
— Đại tự nên biết! Đạo không có đối tượng để niệm, không có đối tượng để phân biệt. Vì sao? Vì Sắc bình đẳng nên Đạo cũng bình đẳng. Do đó mà tôi nói đại tự là Đạo.
Ý đại tự thế nào? Thọ, tưởng, hành, thức có đối tượng để niệm, có đối tượng để phân biệt không?
Cô gái trả lời:
— Không.
Văn Thù Sư Lợi nói:
— Đạo không niệm cũng không phân biệt. Thọ, tưởng, hành, thức bình đẳng nên Đạo cũng bình đẳng. Nên tôi nói rằng đại tự là Đạo. Ý đại tự thế nào? Hạ có thể thấy sắc ở trong, ngoài, chẳng giữa, xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, tía, hồng, ở chỗ kia và phương kia không?
Cô gái trả lời:
— Không.
Văn Thù Sư Lợi nói:
— Đạo cũng không thấy, không ở trong không ở ngoài, không ở chẳng giữa, không ở trong tưởng hồng tía, không ở chỗ kia, phương kia. Vì sắc đã bình đẳng nên Đạo cũng bình đẳng. Nên tôi nói rằng đại tự là Đạo.
Ý đại tự thế nào? Thọ, tưởng, hành, thức có thể thấy ở trong, ngoài, chẳng giữa, trong tưởng nằm màu, phương kia không?
Cô gái trả lời:
— Không.
Văn Thù Sư Lợi nói:
— Đạo cũng như vậy không ở trong, ở ngoài, chẳng giữa và trong nằm màu, không kia, không đây cũng không có phương hướng. Vì thọ, tưởng, hành, thức bình đẳng nên Đạo cũng bình đẳng. Nên tôi nói rằng đại tự là Đạo. Năm âm như huyền, hộ nguyệt, điên đảo, do nhân duyên sanh. Nên Đạo cũng như huyền, là âm thanh giả mượn mà thôi. Huyền là bình đẳng năm âm bình đẳng. Huyền đã bình đẳng thì Đạo cũng bình đẳng. Nên tôi nói rằng đại tự là Đạo. Năm âm như mộng, không có đầu cuối, Đạo cũng như mộng vốn không có xơ số. Vì mộng bình đẳng nên Đạo cũng bình đẳng. Nên tôi nói rằng đại tự là Đạo.
Năm âm giống như sóng nắng do hộ dơi mà phát sanh nghiệp mê hoặc. Đạo như sóng nắng nên nó là như vậy, không có người tạo tác cũng không có báo ứng. Cho nên năm âm sóng nắng bình đẳng. Sóng nắng đã bình đẳng thì Đạo cũng bình đẳng. Nên tôi nói rằng đại tự là Đạo.
Năm âm như bóng trong gương. Gương không có số hữu. Đạo cũng như ảnh trong gương không có số hữu. Do đó mà bóng năm âm trong gương bình đẳng. Bóng trong gương bình đẳng nên Đạo cũng bình đẳng. Nên tôi nói đại tự là Đạo.
Văn Thù Sư Lợi nói:
— Hãy lắng nghe! Năm âm không tạo tác, Đạo cũng không tạo tác. Âm không tự nhiên, Đạo cũng không tự nhiên. Âm không số hữu, Đạo không có chỗ sanh. Năm âm vô thường, hiểu Đạo là vô thường. Năm âm không an, hiểu Đạo là khổ. Năm âm trống không, không thật, hiểu Đạo là trống không. Năm âm vô ngã, nếu hiểu rõ nghĩa vô ngã thì đó là Đạo. Các âm tích nhiên đảm bạc thì đó là Đạo. Các âm không có người thọ, không có sự thọ đó là Đạo. Các âm không trú, cũng không có đối tượng để chắp lấy. Không trú không chắp ấy là Đạo. Các âm không đến cũng không đi, không đến không đi là Đạo. Vì có năm âm nên chắp vào thành pháp dựa vào âm thanh giả mượn mà nói là Hiện thành. Nhưng đối với Đạo pháp thì nói ngược lại. Họ đã nói nặng nhưng không có gì để nói nặng. Năm âm đều không vì vốn là thanh tịnh. Như Lai hiểu rõ vốn thanh tịnh như vậy mà đắc thành Chính-giác. Nên tôi nói rằng đại tự là Đạo.
Vì vậy năm âm vốn thanh tịnh, Đạo cũng vốn thanh tịnh. Vì Đạo thanh tịnh nên các pháp thanh tịnh.
Đại tự! Nay các âm vốn thanh tịnh. Chư Phật Thế Tôn cũng vốn thanh tịnh. Tất cả vốn thanh tịnh là như vậy. Cũng vậy năm âm của chúng sanh vốn thanh tịnh. Nên tôi nói rằng đại tự là Đạo.
Đã hiểu rõ năm âm thì hiểu rõ Đạo là Đạo của chư Phật. Lại nữa, chư Phật không lìa năm âm mới thành Phật Đạo. Đạo không lìa năm âm, nhưng biết rõ năm âm nên mới có hiểu là Phật.
Cho nên nay đại tự! Nên quán như vậy: Tất cả chúng sanh đều ở trong Đạo. Đạo cũng ở trong tất cả chúng sanh. Đạo không duyên vào lời nói. Cho nên tôi nói rằng đại tự là Đạo. Năm âm do ngã mà sanh bốn chủng. Thế nào là bốn? Đó là Địa, Thủy, Hỏa, Phong.
Địa chủng là không ngã, không người, không thọ, không máng. Vì Địa chủng bình đẳng nên Đạo cũng bình đẳng. Vì vốn nó không có đối tượng để thọ nên gọi là bình đẳng. Thủy chủng bình đẳng, Đạo cũng cứu cánh, đầu cuối là như vậy. Hỏa chủng bình đẳng vì Đạo là cứu cánh đầu cuối không có tự vệ. Phong chủng bình đẳng vì đầu cuối của Đạo không chỗ thấy.
Đại tự nên biết! Nhờ Địa chủng này mà Như Lai thành Đạo. Thủy, Hỏa, Phong chủng là Chủng của Như Lai. Cũng vậy, Như Lai nhờ Đây mà thành Đạo. Nếu hiểu rõ Địa chủng và nhờ thủy hỏa phong mà đắc thành Phật. Nên nói rằng đại tự là Đạo.
Các chủng Địa thủy hỏa phong không có tưởng. Vì không có tự tưởng về bốn đại này, cho nên gọi là Đạo. Vì thế tôi nói rằng đại tự là Đạo.
Bốn đại chủng nương nơi ngã mà có nhân, nhĩ, tế, khẩu, ý. Nhân ấy là không, nên hiểu Nhân như vậy. Ai phân biệt được cái không đó thì là Đạo. Nhĩ, tế, khẩu, thân, khẩu, ý cũng tương tự. Ý là không, nếu hiểu rõ cái không như vậy thì đó là Đạo. Vì Nhân trồng không nên không biết tìm cầu sắc. Vì sắc là tự nhiên không nên đó là Đạo. Nhĩ, tế, khẩu, thân, ý cũng như vậy.
Như vậy nay đại tự! Nhân thức giới đối với sắc giới không có chỗ trú, với nhân thức giới và sắc giới thì Đạo không có chỗ trú. Nhĩ thức giới, tế thức giới, khẩu thức giới, thân thức giới, ý thức giới không trú và vào pháp giới, Đạo cũng không trú. Đối với tâm pháp thức giới thì Đạo không tiếp nhận. Do đó Đạo và nhân thức là một. Cũng vậy nhĩ, tế, khẩu, thân, ý thức giới… thì Đạo và Ý thức là một. Nên tôi nói rằng đại tự là Đạo.
Lại nữa nay đại tự! Nếu phân biệt tưởng tấn về nhân, đó là Đạo. Nhân vốn trồng không, thanh tịnh. Nếu hiểu rõ tự nhiên không thì đó là Đạo. Nhĩ, tế, khẩu, thân, ý cũng vậy, vốn tự nhiên không. Nếu phân biệt giác ngộ rõ rằng nó vốn thanh tịnh, tự nhiên không, đó là Đạo. Vì nhân tự nhiên không nên không bị nhiễm không kết hận, không xâm hại, khinh khi, trừ bỏ dâm nữ si, đó là Đạo. Nhĩ, tế, khẩu, thân, ý cũng như thế. Ý là tự nhiên, tự nhiên ấy không nhiễm cũng không kết hận, không bị xâm hại, khinh khi, trừ dâm nữ si, đó là Đạo.
Nhân không có chủ tử, không có ngã cũng không tiếp nhận. Nhĩ, tế, khẩu, thân, ý cũng vậy không có chủ tử, không có ngã và không tiếp nhận. Đạo cũng không có chủ tử, không có ngã và không tiếp nhận.
Lại cho rằng Nhân không phải pháp nam, không phải pháp nữ. Nếu đã hiểu rõ về Đạo không có pháp nam-nữ, không nam không nữ, đó là Đạo. Nhĩ, tế, khẩu, thân, ý cũng không có pháp nam, không có pháp nữ. Đạo cũng vậy không có pháp nam nữ. Như Lai đã giác ngộ rõ về Nhân sắc không có nguồn gốc. Nếu hiểu rõ không nguồn gốc thì đó là Đạo. Nhĩ, tế, khẩu, thân, ý cũng vậy. Như Lai đã giác ngộ rõ về Ý không có nguồn gốc. Nếu giác ngộ rõ như thế thì đó là Đạo. Nên tôi nói rằng đại tự là Đạo.
Lại nữa, nay đại tự! Chính thân mình không có ngã, không ngã, không nhân, không thọ, không máng, không hình, không ý, không tạo tác, không thọ nhận, không thấy, không nghe, không nắm bắt, không buông xả, không đắc, không biết, thì Đạo cũng không ngã, không nhân, không thọ, không máng, không nam, không nữ, không thân, không tạo tác và cũng không chỗ thấy. Lại không có ý thức về sắc thanh hương vị xúc. Dùng chỉ tất cả pháp đó gọi là Đạo.
Nay đại tự mở mắt không trí, thân tá ở hiện tại. Giống như cây cổ tưởng vách gạch ngồi. Với Địa chủng bên trong và Địa chủng bên ngoài, Như Lai dùng trí huệ thông Đắt rẽ rào. Nếu hiểu Địa chủng ấy thì đắt thành Chính-giác. Cho nên tôi nói Đại tự là Đạo.
Nay Đại tự! Các tưởng niệm của tâm Ý thức ấy do tâm sai sự Ý mà có pháp này. Nhưng pháp này không đến không đi. Thân không chỗ đến, giáo pháp không có chỗ đắt, không có nước dãi, không có gân mạch, không xương cốt lông tóc, không ở nãi, không ở tụy, không ở trong, không ở ngoài. Vì nhân không (chỗ) trú nên nhĩ, tế, khẩu, thân, ý cũng không trú, không có chỗ trú, chẳng phải không trú; không kiến lập cũng không lìa sự kiến lập; không có xơ số, không có đắt đai, không có phương hướng, không sắc không thấy, không trao không nhận, không sai sự, không dạy báo, không bỏ ra, không nắm vào, thanh tịnh, lặng trong đó là hiện bày. Tâm thức ấy cũng không tham trước, không thanh tịnh, không dính bụi trần, bốn tế thanh tịnh. Vì thế không tham trước không thanh tịnh. Còn như hiện bày thì liền có thân, vì thế cũng không tham trước, không thanh tịnh.
Nay Đại tự! Các nhập và âm chủng tự nhiên là Đạo. Đạo cũng tự nhiên hiểu rõ phân biệt các nhập và âm chủng. Nếu chính mình có thể diệt trừ các nhập và âm chủng thì đó là Đạo. Vì sao? Vì Đạo không lo