Trong dòng suối dài lịch sử tu học Phật giáo ở Việt Nam, có những câu chuyện vãng sanh thực sự khiến chúng ta sâu sắc nhận ra sức mạnh của niệm Phật và lòng tin tuyệt đối vào Phật A Di Đà. Câu chuyện vãng sanh của ông Lê Văn Hiếu (1940-2001) là một minh chứng rõ ràng cho điều này—không phải là tín ngưỡng mơ hồ, mà là một thực tế xảy ra trong một gia đình bình thường ở Miền Nam, nơi mà tâm đạo thực sự được phát huy hết công năng của nó.
Ông Lê Văn Hiếu sinh ngày 23 tháng 11 năm 1940 tại Long An, trong một gia đình trung lưu. Từ nhỏ, ông đã có duyên với Phật giáo khi thường xuyên theo bà ngoại đi chùa Long Vân để tham dự các khóa tu học và nghe Pháp. Khoảng hơn mười tuổi, ông đã giúp sư cô chùa Long Vân trong công việc niệm Phật cho những người tham gia các lễ nghi cầu nguyện hoặc các đám tang. Thời thanh niên, với tâm nguyện tu học Phật pháp, ông luôn cố gắng tìm cơ hội đến chùa, học hỏi kinh điển và quốc lộ với bà ngoại khi có dịp.
Nền Tảng Tâm Đạo Và Lối Sống Chánh Tín
Sau những năm giải ngũ, ông lập gia đình với bà Nguyễn Ngọc Nuôi và có tám người con—một con trai và bảy con gái. Gia đình sống bằng nghề buôn bán tại Chợ Lớn, một khu vực tấp nập của Sài Gòn. Dù bận rộn với kinh doanh, ông không bao giờ quên tâm đạo của mình. Vào các ngày rằm, mùng mười, ông thường dẫn đoàn người thân, hàng xóm hành hương viếng thăm các ngôi chùa nổi tiếng như An Quang, Trí Cú, Bến Tre, Mỹ Tho và Núi Bà để cầu nguyện cho sự thịnh vượng của gia đình và cộng đồng.
Năm 1982, ông cùng vợ quy y Tam Bảo với Hòa Thượng Thích Thánh trụ trì tại chùa Đông Hưng ở Thủ Thiêm. Phật danh của ông là Đông Hưng, còn vợ ông là Đông Thịnh. Từ lúc quy y, ông Lê Văn Hiếu trở nên tích cực hơn trong các hoạt động tu tập cộng đồng. Trong kinh doanh, ông nổi tiếng là một người luôn bán hàng với giá công bằng, không tham lam mưu lợi, và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người xung quanh. Bất cứ chùa nào ông viếng thăm, ông đều tích cực tham gia vào công tác tu bổ, sửa sang, xây dựng các công trình tu học của ngôi chùa đó.
Ông Lê Văn Hiếu trong một lần hành hương viếng chùa cùng gia đình và cộng đồng Phật tử
Năm 1992, với tâm nguyện phiêu lưu tìm cơ hội kinh tế, ông qua Mỹ định cư. Dù ở xa, tâm đạo của ông vẫn không rơi rụng. Ông tiếp tục gửi tiền về Việt Nam để hỗ trợ xây dựng, tu bổ chùa Long Vân—ngôi chùa gắn bó với những ký ức tuổi thơ của ông. Khi các con ông muốn xin việc làm ở những công ty lớn để kiếm sống dễ dàng hơn, ông quyết liệt không cho phép, nhấn mạnh rằng một gia đình cần phải có tâm chính trực, làm việc thanh thản, chứ không phải chạy theo sự tham lam vô độ.
Bệnh Tật Như Lời Gọi Tâm Linh
Chẳng bao lâu sau khi cư trú ổn định tại Mỹ, ông Lê Văn Hiếu bị bệnh tiểu đường. Đây là một căn bệnh mạn tính, thường gây biến chứng nặng nề—huyết áp cao, gan lách suy yếu và tình trạng thận bị hư hỏng. Sau đó, chân ông bị liệt, mất khả năng đi bộ, điều đó có nghĩa là ông không còn có thể quỳ lạy Phật như trước. Tuy bệnh tật càng ngày càng nặng, ông vẫn giữ vững tâm niệm Phật.
Thấy ông chịu đựng khổ đau, bà Nguyễn Ngọc Nuôi—vợ của ông—luôn lo lắng rằng tâm linh của chồng có thể bị lung lay. Vì vậy, bà thường xuyên đến bên cạnh khuyên dạy ông bằng những lời nói tấm tình:
“Mẹ con em sẽ tận tâm chăm sóc cho anh, anh đừng nên nghĩ đến hàng hoại thân. Anh hãy rằng tịnh tâm rửa sạch nghiệp. Chỉ có Phật A Di Đà mới cứu độ được anh. Anh hãy rằng lo niệm Phật.”
Ông trả lời bằng giọng an yên:
“Tôi biết mà bà, tôi lúc nào mà không niệm Phật!”
Mỗi sáng và chiều, dù không thể quỳ lạy, ông vẫn thắp nhang xá Phật. Khi không lấy được bằng cách nào khác, ông sẽ nhắc vợ con chuẩn bị thắp nhang. Vào những giờ khác trong ngày, ông nằm yên tĩnh nghe Bát-nhã giảng, hoặc lặng lẽ nghe máy niệm Phật và niệm theo. Tâm của ông trở thành một cái chùa sống động, nơi mà niệm Phật không bao giờ dừng lại.
Sự Xuất Hiện Của Vị Thầy Phụ Trách Vãng Sanh
Vào cuối tháng giêng năm 2001, bệnh tích của ông bắt đầu trở nặng lên đáng kể. Gia đình đưa ông đến bệnh viện Fairfax để nhập viện điều trị. Tại bệnh viện, tình trạng sức khỏe của ông ngày càng xấu đi, ông hoàn toàn đi vào cơn hôn mê sâu. Vợ ông cấp tốc liên lạc với Sư Cô Luận Liên—một vị sư cô tu học Phật pháp Tịnh Độ nổi tiếng—và các liên hữu trí thức khác để đến bệnh viện, tụng kinh cầu nguyện và trợ niệm cho ông.
Sư Cô Luận Liên và các Phật tử cùng nhau niệm Phật, trợ niệm cho ông Lê Văn Hiếu tại bệnh viện
Khi đoàn người đến bệnh viện, toàn thân ông được kết nối với hàng loạt các ống dây cắm, các thiết bị theo dõi nhịp tim, và cung cấp oxy, dinh dưỡng từ bên ngoài qua các đường truyền. Một người bạn thân của ông là Thiện Viên, khi nhìn thấy ông bất động, liền cảm thấy vô cùng xót xa. Anh ta tiến gần bên cạnh và nói rằng:
“Anh hãy cố pháp đẩu trong cơn báo bệnh, vãng anh các cháu sẽ khỏi lắm!”
Ngay lập tức, Sư Cô Luận Liên đưa ra lời khuyên thiết thực:
“Trong tình huống này, tuyệt đối không được khởi động tình cảm gia thế của chú; nó sẽ là trở ngại rất lớn trong việc hộ niệm cho chú áy.”
Sau khi nói xong, Sư Cô Luận Liên tiến đến bên giường bệnh nhân; bằng âm thanh điều đều và nhẹ nhàng:
“Chú Đông Hưng, hôm nay Sư Cô đến đây để niệm kinh cầu nguyện cho chú, chú hãy tịnh tâm gạt bỏ mọi tình cảm thế gian, dứt bỏ mọi tạp niệm, nhất tâm niệm Hồng Danh A Di Đà, cầu nguyện lực của Ngài tiếp độ cho chú.”
Mặc dù ông đang trong cơn nửa tỉnh nửa mê, nhưng sau những lời Pháp nhẹ nhàng từ Sư Cô, toàn thân ông chứng động, môi máy mấp máy, mi mắt cùng mấy ngón tay rung động, chiếc giường chuyên động lên xuống mấy lần. Sư Cô cho biết là ông đã cảm nhận được, mặc dù trong cơn hôn mê; Sư Cô tiếp tục hướng dẫn mọi người niệm Chú Dược Sư và niệm Hồng Danh Phật A Di Đà.
Bệnh viện Fairfax nơi ông Lê Văn Hiếu nhập viện điều trị bệnh tật
Sau thời trợ niệm, trước khi vợ ông ra về, Sư Cô để lại một máy niệm Phật trang bọc (một loại máy ghi âm niệm Phật) của Thầy Thích Giác Sơn bên tai để ông nghe liên tục. Sư Cô khuyên biểo gia đình ông rằng:
“Chú Đông Hưng đã đến giai đoạn hết cách cứu chữa. Bác sĩ cho biết rằng, bệnh nhân cần phải phẫu thuật để dẫn sữa từ ngoài vào dạ dày để cung cấp dinh dưỡng, nhưng tình trạng sức khỏe không đảm bảo an toàn sau thời kỳ hậu phẫu thuật. Vậy nên đưa chú Đông Hưng trở về nhà lo trợ niệm!”
Bước Ngoặt Trong Hành Trình Vãng Sanh
Mọi người đều tán thành, để tiến lợi cho việc hộ niệm và cầu nguyện. Tuy bệnh trạng rất trầm trọng nhưng nhờ hộ niệm nên ông rất tỉnh táo, nhẹ nhàng. Khi hiểu được ý định mình sẽ được đưa về nhà lo trợ niệm, ông đã biểu hiện phấn khởi, tay chân mi mắt rung động, nháy miệng với thần thái an tĩnh.
Lúc 11 giờ trưa ngày mùng 8 tháng 2 năm 2001, ông xuất viện, với bộ phận tiếp trợ đường khí và y tá đi theo. Vợ ông cùng các con, cảm thấy một sự nhẹ nhõm, một sự tin tưởng từ những lời khuyên của Sư Cô Luận Liên. Vừa vào nhà, Sư Cô Luận Liên lại ganh bên khối thắp:
“Chú Đông Hưng, Sư Cô, Ni Cô cùng quý đạo hữu và gia đình đông cầu nguyện, hộ niệm cho chú được nhẹ nhàng an lạc. Chú hãy gạt bỏ mọi vong niệm; nhớ niệm Phật theo, rằng nhất tâm, đừng gián đoạn, Chư Phật sẽ tiếp độ cho chú.”
Một lần nữa, mi mắt, bàn tay ông rung động nhẹ, hơi thở mạnh hơn, như muốn gắng gượng ngồi dậy. Toàn thể gia quyến gồm vợ ông, tám con, hai rể cùng Ban trợ niệm Đông Hưng hộ niệm cho ông. Sư Cô Luận Liên khuyên bảo mọi người không nên có một lời than khóc thương tình, hay biểu lộ buồn thảm. Sau đó, Sư Cô phát cho mọi người một quyển kinh và hướng dẫn cùng niệm theo Sư Cô và Ni Cô Trí Liên.
Tất cả niệm kinh trong bầu không khí trang nghiêm, thanh tịnh từ 12 giờ trưa. Đúng 2 giờ rưỡi chiều, Sư Cô ra hiệu cho cô y tá bệnh viện rút ống tiếp hơi dưỡng khí, ông thở từng chắp gián đoạn rất khó khăn. Âm thanh trợ niệm cứ vang rõn, chí thành và miệt mài. Tiếng Sư Cô niệm mỗi lúc một to hơn, mọi người tập trung niệm mãnh liệt hơn, hơi thở bệnh nhân từ tờ từ yếu dần…
Hơn 5 giờ chiều, mặt của ông trở nên hồng hào như người khỏe mạnh, thần sắc an tĩnh từ hòa lộ một nét vui tưởi. Cụ bà Diều Ngọc (Ngô Thị Sơn), nhân mẫu của ông, đã hơn 85 tuổi, thấy thế liền thốt lên:
“Thằng Hiếu mặt độ hồng như thế này, chắc nó chưa đi trong ngày nay”.
Buổi hộ niệm kéo dài đến 5 giờ 48 phút, Sư Cô vì nhận thấy bệnh nhân rất tưởi tắn và thở đều đặn nên nghĩ rằng, có thể còn kéo dài nhiều giờ. Để hộ niệm cho một buổi lễ khác cũng một Phật tử khác đã hứa trước, Sư Cô chuẩn bị đi, xong sẽ trở lại. Nhưng xe vừa ra đến cổng, vợ ông hấp tấp gọi Sư Cô quay trở lại. Ông bắt đầu phun nước bọt.
Tiến nhanh đến bệnh nhân, Sư Cô dặn:
“Chú Đông Hưng! Rằng nhất tâm niệm Phật!”
Sư Cô cùng mọi người tiếp tục hộ niệm. Vài phút sau, bằng ông thở ra ba hơi dài, mỗi hơi cách khoảng vài giây; mặt hơi ngáng lên, nửa như tạ giã, nửa như cảm ơn mọi người, rồi trút hơi thở sau cùng, lúc 5 giờ 53 phút chiều ngày mùng 8 tháng 2 năm 2001. Ông hưởng thọ 61 tuổi.
Những Dấu Hiệu Linh Thiêng Của Vãng Sanh Thành Công
Lúc áy, con gái ông tên Thu Vân, bằng nhiên thoảng ngửi một mùi hương lạ ngạt ngào, khiến trong người cảm thấy khỏe khoắn khác thường. Tiếng niệm Phật vẫn tiếp tục vang đều. Sắc mặt ông độ hồng từ từ tái xanh. Sư Cô thẩm dò khí đạo, số nhẹ các nơi và cho biết:
“Chú Đông Hưng đã xuất thần lưu lại hơi âm nơi đảnh đầu trong trạng thái an tĩnh.”
Sư Cô còn dặn thêm:
“Phật tử Đông Hưng đã vãng sanh. Sau buổi lễ hỏa táng, nên dặn dò nhân quân, đừng dùng máy nghiền, hãy giữ nguyên xương cốt còn lại để kiểm nghiệm”.
Thân thể của ông vẫn còn mềm dẻo, mặt đẹp mãi đến khi nhà quán đến chỗ đi hỏa thiêu. Hai ngày sau, thân nhân ông mang hết hài cốt về chùa cho Sư Cô kiểm nghiệm. Các xương cốt của ông Lê Văn Hiếu (Pháp danh Đông Hưng) lưu lại rất nhiều xá lợi đủ loại, đủ cơ, đủ màu sắc đẹp đẽ—những dấu hiệu chứng tỏ sự vãng sanh thực sự đã xảy ra.
Bài Học Từ Câu Chuyện Vãng Sanh Của Ông Lê Văn Hiếu
Câu chuyện vãng sanh của ông Lê Văn Hiếu không phải là một truyền thuyết hư ảo hay một tín ngưỡng mù quáng. Đây là một minh chứng rõ ràng về sức mạnh của niệm Phật, lòng tin tuyệt đối vào Phật A Di Đà, và đặc biệt là sự trợ niệm từ tâm của các Sư Cô, Phật tử bạn bè. Ông đã sống một đời vì người khác, luôn hướng về Tam Bảo, tích cực tu tập dù bệnh tật ập đến.
Hành trình vãng sanh của ông cho chúng ta thấy rằng: dù bệnh tật, bất lực hay gặp phải bao nhiêu khó khăn, nếu chúng ta duy trì niệm Phật nhất tâm, tín tâm mãnh liệt, lòng tin không dao động, thì Phật A Di Đà sẽ tiếp độ chúng ta đến Cực Lạc. Không cần phải quỳ lạy, không cần phải có năng lực phi thường, chỉ cần một tâm chân thành, một lòng tin tuyệt đối—đó là chìa khóa để mở cửa Cực Lạc.
Xá lợi đủ loại, đủ cơ, đủ màu sắc mà ông để lại không phải là ngẫu nhiên. Đó là bằng chứng từ Phật A Di Đà, từ Pháp tính vũ trụ, chứng tỏ rằng ông đã thực sự vãng sanh thành công, được tiếp độ đến Cực Lạc Tây Phương, nơi mà không còn khổ đau, bệnh tật, chỉ có an lạc vĩnh hằng.
Hãy nhớ lại câu nói của ông: “Tôi biết mà bà, tôi lúc nào mà không niệm Phật!” Đó chính là tinh thần tu học mà chúng ta cần học hỏi—một niệm Phật không gián đoạn, một tâm không lung lay, một đời sống hướng về Tam Bảo. Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta cũng có thể kế tục câu chuyện vãng sanh tương tự, miễn là chúng ta tin, chúng ta niệm, chúng ta hành.
Xin kính chúc ông Lê Văn Hiếu (Pháp danh Đông Hưng) đã an lạc vĩnh hằng tại Cực Lạc Tây Phương, và xin cho tất cả chúng ta một ngày kia cũng được như ông—vãng sanh thành công, gặp lại Phật A Di Đà, và hành trình giải thoát không bao giờ dừng lại.
Tài Liệu Tham Khảo Kinh Điển
Sách “Chuyện Vãng Sanh” – Nhóm Liên Hữu Miền Nam Đất Việt
- Hiệu định: Nguyễn Minh Tiến
- Trích dẫn các lời Phật A Di Đà từ Kinh A Di Đà Tịnh Độ Pháp Môn
- Công việc hộ niệm theo truyền thống Tịnh Độ Phật giáo Việt Nam
- Minh chứng xá lợi từ Pháp tính vũ trụ theo Pháp thuyết Phật giáo