Image default
Luận Giải & Nghiên Cứu Phật Học

Con Đường Của Đức Phật Là Khoa Học Nhân Văn

Đức Phật không tuyên thuyết cho một tôn giáo mà thực sự tiếp duyên giáo hóa chúng sinh. Ngài không phải làm công việc xây dựng một triết học Phật giáo, mà là hướng đến việc dẫn dắt chúng sinh vượt thoát khỏi vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh để tiến đến thường, lạc, ngã, tịnh – một chặng đường đầy thử thách gian truân. Đây không phải là một hành trình tâm linh huyền bí, mà là khoa học nhân văn thực tiễn, gần gũi với cuộc sống con người.

Con đường tạo dựng tôn giáo nào cũng vốn bắt đầu bằng sự huyền hóa, siêu thực để gây tạo lòng tin về sự trừng phạt đối với cái ác và giang tay đón lấy sự hướng thiện. Đức Phật là nhân vật có thực đã bị huyền hóa, thay đổi theo chiều hướng áy khiến cho cái nhìn về Đức Phật cũng giống như những tôn giáo khác về quyền năng, về sự hướng thượng. Nhưng khác biệt sâu sắc nằm ở chính bản chất của giáo lý mà Ngài truyền dạy: Đức Phật không tìm kiếm những quyền năng siêu tự nhiên hay những phép mầu lạ lùng. Thay vào đó, Ngài dạy con người cách quan sát chính mình, hiểu rõ bản chất của khổ đau và con đường thoát khỏi nó.

Các học giả phải mất nhiều công sức để cấu, tạo nên sự mâu thuẫn trong khối lượng đề sơ Kinh Điển mà không thể phân biệt đâu là thực, đâu là hư cấu. Sau vài thế kỷ, có người Long Thọ đã xuất Tứ cú phân biệt (sa. catuṣkoṭi) để giải hóa những mâu thuẫn qua đối chiếu dữ liệu. Công cuộc này cho thấy rằng triết học Phật giáo, tư tưởng Phật giáo là sản phẩm của hậu thế, không phải từ Đức Phật trực tiếp mà là sự phát triển và hoàn thiện từ các thế hệ sau.

Đức Phật Là Nhà Đạo Đức Nhân Văn

Tóm lại, triết học Phật giáo, tư tưởng Phật giáo là sản phẩm của hậu thế. Đức Phật chỉ là nhà đạo đức nhân văn. Một nhân vật lịch sử tỉnh thức như Ngài đã tìm ra con đường giải thoát thực tế – không phải qua những phép mầu hay quyền năng siêu nhiên, mà qua sự tu tập, sự tu dưỡng tâm tính và nhận thức đúng về cuộc sống. Einstein – nhà bác học bậc tháy của những nhà bác học – khi tiếp cận giáo lý của Đức Phật cũng tìm ra mạch sống, tư tưởng Đức Phật từ những triết học, luận lý giáo diều này. Vì vậy ông không tự biến thành một tín đồ thuần thành để nối tiếp những vầng hào quang mà chỉ sống để sống, biết sống là tu, biết tu là sống.

Nhận định nổi tiếng của Einstein về Đức Phật có hai phát biểu: “Những điều hôm nay ta mới mày mò, khám phá, Đức Phật đã thấy từ hàng ngàn năm trước”“Có hai sự vô hạn: Vũ trụ và sự ngu xuẩn của con người. Nhưng tôi không chắc lắm về điều đầu tiên”. Điều này chứng tỏ rằng trí tuệ của bậc chân sư đã vượt qua những giới hạn không gian, phá vỡ mọi giới hạn thông thường.

Triết học Phật giáo không phải là hệ thống tôn giáo tâm linh huyền bí, mà là một hệ thống kiến thức về bản chất của tâm, của đời sống, của con người. Đức Phật đã quan sát hiện tượng khổ đau một cách khoa học, không dựa vào tín ngưỡng mà dựa vào thực tế mà mọi con người có thể kiểm chứng được. Vì thế, những người học Phật – từ những người Phật tử đơn giản đến những nhà khoa học hiện đại – đều có thể tìm ra trong giáo lý này những chân lý có tính nhân văn sâu sắc.

Đức Phật dạy về bản chất của khổ đau và con đường giải thoát qua sự tu tập tâm tínhĐức Phật dạy về bản chất của khổ đau và con đường giải thoát qua sự tu tập tâm tính

Bốn Chân Lý Nền Tảng Của Đạo Phật

Dành cho Đức Phật sự kính ngưỡng và tìm ra cảm hứng sáng tạo từ những luận thuyết trong giáo lý mà vẫn giữ nguyên vận hướng đi ban đầu của Ngài là nhằm đến sự Giác Ngộ, nhằm đến thứ kỳ luật tinh thần, hướng đến cái nhìn nội tâm đã là sự tôn kính tuyệt đối. Thực ra đạo cuả Đức Phật là sự định hướng chắc chắn vào Khổ – Tập – Diệt – Đạo – bốn chân lý cao thượng này.

Tinh thần khoa học của Đức Phật là thứ khoa học nhân văn, hoàn toàn khác với khoa học tâm linh, thần bí hay vật lý lý thuyết. Nếu đối sánh với sáng tạo thì đó là sáng tạo của nghệ thuật về nhân sinh, chứ không phải nghệ thuật về thần bí hay những hiện tượng siêu nhiên. Vì thế, Đức Phật không tìm kiếm những quyền năng siêu tự nhiên như các tôn giáo khác, mà tìm kiếm con đường giải thoát thực tế – con đường dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của khổ đau và cách vượt thoát nó.

Hành Trình Tìm Tòi Của Ngài

Tuy nhiên, bởi vì cả khoa học cũng như Đạo Bụt đều khao khát đi tìm chân lý để đạt được mục tiêu này, cả hai đều sử dụng những tiêu chuẩn mang tính xác thực. Đó là sự tương đồng giữa tinh thần khoa học và tinh thần tu tập của Đức Phật – cả hai đều tìm kiếm sự thật, cả hai đều dựa vào quan sát, thử nghiệm và logic để xác minh những khẳng định. Thực ra điều này đúng với khoa học hoặc các tôn giáo khác. Riêng Đức Phật, sau lời tuyên thuyết Ngài thẳng hướng đi của tam vô lâu học – Giới – Định – Tuệ.

Hành trình tìm tòi của Đức Phật trước khi thành đạo cho thấy Ngài không chấp nhận bất kỳ lý thuyết nào mà chưa được kiểm chứng bằng chính trải nghiệm của mình. Ngài đã học hỏi từ nhiều thầy tháo khác nhau – Alara Kalama và sau đó là Uddaka Ramaputa – nhưng cuối cùng vẫn thấy rằng những phương pháp của họ không dẫn đến giải thoát hoàn toàn. Cho dù những vị thầy này đã có những đạt được cao trong thiền định, Đức Phật vẫn nhận ra rằng đó chỉ là những trạng thái tạm thời, không phải là cứu cánh tối hậu mà Ngài tìm kiếm.

Sau khi từ bỏ cách tu tập cực đoan và chấp nhận một con đường trung bộ, Đức Phật đã tự tìm ra Phương Pháp Định Tứ Thánh Đạo – một con đường dựa trên sự cân bằng giữa tập trung tâm trí và sáng suốt trực tiếp. Phương pháp này không dựa vào niềm tin mù quáng, không dựa vào sự tuân theo mù quáng những quy tắc, mà dựa vào sự tự kiểm chứng và hiểu biết sâu sắc về bản chất của tâm và đời sống.

Hai Loại Định Trong Đạo Phật

Để hiểu rõ hơn về con đường của Đức Phật, chúng ta có thể chia ra hai loại định chính: Định Hữu Sắc và Định Vô Sắc.

Định Hữu Sắc: dùng các phương pháp dẫn tâm, làm chủ tâm ý, nhiếp phục, đoạn diệt các chướng ngại trên thân và tâm. Quan trọng nhất là bậc tứ thiền hướng đến Tam Minh trong trạng thái tỉnh chỉ hơi thở hoàn toàn. Có thể nhiều ngày, nhiều tháng chỉ đến khi muốn thì xả bỏ trạng thái đó trở về hơi thở. Phương pháp Định Hữu Sắc tưởng đã tồn lại sau hơn 2600 năm vì không có vị tăng nào nối tiếp, chứng đắc. Nhưng sau này, năm 1980, Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc, Tự viện Chơn Như ở Trảng Bàng – Tây Ninh đã thành tựu viên mãn.

Định Vô Sắc: thì ngược lại, cơ sức úc chế ý thức, chế ngự niệm khởi và điều mà nó đem lại là trạng thái thoát tục của tưởng âm. Rất nhiều đạo sĩ với sự phát triển của tưởng âm rất hứng khởi với lực thông cũng chính từ đây.

Đức Phật đi từ Định Vô Sắc và sau rồi bỏ, tự tìm ra phương pháp đối nghịch. Như đã nói, Ngài dứt khoát với các vị thầy cũ cho dù được khuyên thiết nơi nề ở lại “cùng chăm sóc họ”. Nhưng trong Kinh Bát Thánh, bài kinh mà Đức Phật giao cho A-nan-da trả lời gia chủ Dasama “…có một pháp gì độc nhất của Đức Phật được tu tập để đi đến kết quả giải thoát hoàn toàn chấm dứt tái sinh luân hồi không?”

Như các bạn đã biết pháp của Đức Phật có rất nhiều, có đến ba mương bảy pháp môn tu tập từ thấp đến cao. Thế mà gia chủ Dasama lại hỏi có một pháp độc nhất nào chỉ tu tập pháp này sẽ đi đến cứu cánh, thì biết trả lời làm sao các bạn nhỉ? Nhưng ông Ananda đã thay Đức Phật trả lời câu hỏi này: “Không phải chỉ có một pháp độc nhất mà có đến cả tám pháp độc nhất, pháp nào cũng tu tập đi đến kết quả giải thoát rốt ráo”. Cho nên bài kinh này được lấy tên là Kinh Bát Thánh trong Kinh Trung Bộ, tập II, trang 30.

Tám pháp đó là bốn pháp Tứ Vô Lượng Tâm (Tứ Vô Lượng, Bi Vô Lượng, Hỷ Vô Lượng, Xả Vô Lượng) và Tứ Thánh Định. Tứ Vô Lượng Tâm là những phương pháp giáo dạy về lòng từ bi, hỷ xả đối với tất cả chúng sinh mà không có biên giới. Những phương pháp này là những yếu tố cơ bản trong sự tu tập của người Phật tử, giúp họ phát triển tâm từ bi, xóa bỏ những cảm xúc tiêu cực, và hướng tâm trí đến những điều thiện lành.

Tam Vô Lâu Học – Nền Tảng Của Phật Pháp

Ngoài những con đường tu tập trên, Đức Phật còn dạy về Tam Vô Lâu Học – Giới, Định, Tuệ – đây là ba nền tảng cơ bản của Phật pháp. Những bài thơ nổi tiếng trong Phật giáo có tả như sau:

Thiên thượng thiên hạ

Duy ngã độc tôn

Nhất thiếu thế gian

Sanh – Lão – Bệnh – Tử

Những vế thơ này không phải ca tụng Đức Phật như một vị thần, mà thể hiện tính độc đặc của con đường tu tập mà Ngài tìm ra – con đường không dựa vào các thần linh, không dựa vào sự can thiệp từ bên ngoài, mà dựa vào sự tu dưỡng nội tâm, sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của cuộc sống.

Cái khác biệt của Đạo mà Đức Phật truyền dạy đó là cái chân lý bất biến. Ngài không mày mò tìm kiếm như những tôn giáo khác và chính thế, kể từ sau khi tuyên thuyết là lộ trình chiếu tập, giáo dưỡng chúng Tỳ kheo. Trong những kế hậu học về sau, vẫn tôn kính tuyệt đối và cũng chính vì sự kính ngưỡng tuyệt đối mà vun đắp cho Đạo Phật những giáo thuyết không phải của Ngài. Thậm chí sự tích cực không cần thiết áy khiến họ bỏ quên cái chân đề để mày mò bên cái tục đề.

Khoa Học Nhân Văn – Tâm Mệnh Của Đạo Phật

Từ đây, ngay từ lần kết tập kinh điển lần thứ nhất, Ngài Long Thọ đã bắt đầu nhận ra những mâu thuẫn trong khối lượng đề sơ Kinh Tạng và nghĩ đến việc sửa chữa, biến đổi bằng phương pháp Tứ Cú Phân Biệt sao cho dễ chấp nhận. Cũng chính từ những nỗ lực “vun đắp” cho hình tượng Đức Phật thành tôn giáo ngay 4 câu tuyên thuyết đầy đủ bằng trợ nên mơ họ trích tưởng với hình ảnh một hài nhi, tay chỉ trời, tay chỉ đất chỉ độc 2 câu trên “Thiên thượng thiên hạ/Duy ngã độc tôn”.

Từ đây, sự kính ngưỡng Đức Phật lại vô tình là biến đổi giá trị thực: Khoa học nhân văn trở thành khoa học tâm linh, thần bí. Cái mà Đức Phật muốn đem đến con người không còn nguyên vẹn. Cũng như sự biến hóa từ vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh sang thành thường, lạc, ngã, tịnh. Sự huyền hóa này đặt chúng sinh vào một trật tự khác, không còn ý thức đúng về thế giới xung quanh. Và để “…tồn tại một tôn giáo nào có thể đáp ứng được với những đòi hỏi của khoa học hiện đại, thì đó là Đạo Bụt…” có lẽ đúng là như vậy.

Tuy vậy, thực chất Phật pháp vẫn giữ nguyên giá trị nhân văn nếu chúng ta biết cách áp dụng đúng. Những người tu tập Phật pháp cần hiểu rằng: Đức Phật không phải là một vị thần đáng thờ cúng, mà là một nhà đạo đức, một nhà tư tưởng nhân văn đã khám phá ra con đường giải thoát khổ đau. Giáo lý của Ngài không phải là những quy luật siêu nhiên mà là những quy luật tâm lý, những quy luật về bản chất của con người và cuộc sống.

Ứng Dụng Thực Tế Của Phật Pháp

Để phục vụ cho mục tiêu này, Đức Phật đã sát hạch 1250 Tỳ kheo để chọn lấy 500 vào tăng đoàn và toàn bộ đều chứng đắc. Trong số đó: 90 A-la-hán, 90 Thiền Định còn lại 320 chứng đắc giới luật. Nhưng cũng chỉ đến đây. Tất cả chìm khuất trong những năm tháng còn lại, hơn 2.600 năm lại có một Tỳ kheo chứng đắc nhưng cũng giống như Ngài, chịu sự đỏ kề, nhớ nhen…

Lẽ ra nếu được đón nhận tích cực hơn thì có phải đó là cơ may rất tốt cho Phật giáo. Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc cứ lặng lẽ vừa dẫn dắt Tăng đoàn vừa truyền dạy giáo pháp để hoằng hoá. Với Tam Vô Lâu Học – Giới – Định – Tuệ và 37 phẩm trợ đạo giáo pháp sẽ thật sự hữu hiệu khi những kế hậu học biết ứng dụng, nghiêm trì tu học. Đó chính là khoa học nhân văn, đó chính là thứ tài sản vô giá của Ngài.

Hoàn toàn không có một khoa học tâm linh, khoa học huyền bí nào khác. Nếu đối sánh với sáng tạo thì đó là sáng tạo của nghệ thuật về nhân sinh chứ không phải nghệ thuật về nghệ thuật, chỉ có giá trị đạm luận. Đạo Phật, con đường của Đức Phật thực sự nếu đi đúng hướng sẽ chấn chỉnh lại những khiếm khuyết mà thực tế cho thấy có hai hệ phái rõ rệt. Giác ngộ và chữa bệnh chứ không phải phân chia theo khu vực địa lý Nam Tông hay Bắc Phái. Trong khi toàn bộ tăng đoàn trong tay Đức Phật thì cả hai đó là một.

Sức mạnh áy bị chế nhỏ ra. Ngày nay giác ngộ không đi đến bên bộ giác ngộ, còn chữa bệnh thì hoàn toàn phó thác rồi may “phước chủ may thầy”. Điều này cho thấy rằng trong suốt hơn hai ngàn năm, Phật giáo đã trải qua nhiều thay đổi, và trong quá trình đó, nhiều yếu tố đã được thêm vào, làm che khuất bản chất thực của Phật pháp.

Gốc Rễ Của Cây Phật Giáo

Trong quyển Phật học Nam truyền của hai tác giả Joseph Goldsein và Jack Kornfield (1987) – Người dịch: Tỳ kheo Giác Nguyên – có kể lại câu chuyện có người đến hỏi Lạt ma Govinda rằng phải có thái độ thế nào trước quá nhiều truyền thống sai biệt nhau của Phật giáo. Ngài Govinda trả lời rằng “Giáo pháp của Đức Phật chẳng khác gì một hạt giống được gieo trên đất và từ đó đâm chồi nảy lộc thành một cội cây đầy đủ gốc, cành, thân lá. Đứng trước cội cây đó, mỗi người một cách chọn lựa: kẻ thích gốc, người thích cành…Và dĩ nhiên cứ vậy mỗi chọn lựa, và sự khiếm khuyết, ngộ nhận, là lẽ tự nhiên bởi vì mỗi phần cội cây đều có những giá trị riêng. Ta không thể phủ nhận bất cứ cái nào…”

Sức mạnh của cội cây Đức Phật to lớn hơn những gì hiện nay chúng ta nhìn thấy. Phật pháp là con đường dành cho những ai muốn sống một cuộc đời có ý nghĩa, muốn tìm ra cách giải thoát khổ đau của chính mình. Nó không yêu cầu con người phải tin tưởng vào những điều huyền bí hay siêu tự nhiên, mà chỉ yêu cầu sự quan sát, sự hiểu biết và sự thực hành.

Cuộc hành trình của Đức Phật từ hoàng tử Siddhartha đến Đức Phật Gotama là minh chứng rõ ràng cho điều này. Ngài đã từ bỏ cung điện, từ bỏ tất cả những điều lạc thú, để tìm kiếm đáp án cho vấn đề khổ đau. Qua hàng năm tu tập, Ngài đã khám phá ra con đường Trung Đạo – con đường không quá cực đoan về cách tu, mà cân bằng giữa tập trung tâm trí và sáng suốt trực tiếp. Đây chính là khoa học nhân văn mà Đức Phật muốn truyền dạy.

Tài Liệu Tham Khảo

Phật pháp của Đức Phật được ghi chép lại trong các Kinh Điển Phật giáo, đặc biệt là Kinh Trung Bộ, Kinh Dài, Kinh Tăng Chi và Kinh Tương Ứng. Những tài liệu này là nguồn thông tin quý báu về những lời dạy của Ngài. Bên cạnh đó, các tác phẩm của những nhà nghiên cứu Phật học như Joseph Goldsein, Jack Kornfield cũng cung cấp những cái nhìn sâu sắc về Phật pháp trong bối cảnh hiện đại.

Related posts

Niết Bàn – Lẩy Tưởng Giải Thoát Tối Cao Trong Phật Giáo

Administrator

Niết-Bàn trong Tư Tưởng Phật Giáo: Giải Thoát Tuyệt Đối hay Chuyển Hóa Tâm Thức?

Administrator

Lắng Nghe Và Thấu Hiểu: Hạnh Nguyện Của Quán Thế Âm Bồ Tát

Administrator