Image default
Phật Học Ứng Dụng

Con Đường “Trung Đạo” – Giáo Lý Cân Bằng Của Phật Giáo

Thái tử Tất-Đạt-Đa ra đời, thấy được những bất hạnh của cuộc sống nên Ngài bỏ ngai vàng, cung son điện ngọc, vẻ đẹp con thơ để tìm đường giải thoát khổ nào cho chúng sinh. Sau khi thử các phương pháp tu khổ hạnh khắc nghiệt nhưng không đạt được giải thoát, Ngài đã khám phá ra một con đường giữa hai cực đoan – con đường “Trung Đạo” – mở ra một học thuyết vĩ đại về sự cân bằng và thực hành Phật pháp phù hợp với cuộc sống con người.

Lý thuyết về hai cực đoan và con đường Trung Đạo không chỉ là một giáo lý lý thuyết mà còn là kết quả từ kinh nghiệm tu tập thực tế của Đức Phật. Đây là một trong những nền tảng quan trọng nhất của Phật giáo Việt Nam, giúp người tu học hiểu được cách thực hành Phật pháp một cách khoa học, hiệu quả và phù hợp với đặc điểm của mỗi cá nhân.

Hành Trình Khám Phá Con Đường Giữa

Trước khi thành Phật, Thái tử Tất-Đạt-Đa đã tìm kiếm những vị đạo sư nổi tiếng để học Phật pháp. Ngài lần lượt tới học với hai vị Bà-la-môn nổi tiếng nhất là Alar Kalam và Uddaka Ramputta, nhưng cả hai vị này đều không tìm được đường giải thoát tối hậu. Sau đó, Ngài cùng năm anh em Kiều Trần Như tu khổ hạnh suốt bảy năm liên tiếp.

Đức Phật tu khổ hạnh ở rừng sâu, thân hình gầy gò chỉ còn da bọc xươngĐức Phật tu khổ hạnh ở rừng sâu, thân hình gầy gò chỉ còn da bọc xương

Cách tu khổ hạnh của Ngài có hai loại chính. Loại thứ nhất là tự hành hạ mình bằng cách vất vả, gây tổn hại thân thể một cách tàn khốc. Loại thứ hai là ép xác, hạn chế ăn uống mỗi ngày, từng chút một dần dần. Ngài chọn cách thứ hai, nhưng dù nhẹ hơn, hậu quả của nó cũng vô cùng thảm hại.

Sau sáu năm tu khổ hạnh, thân thể Ngài chỉ còn da bọc xương, sức khỏe lụi tàn như ngọn đèn cạn dầu mong manh trước gió, và suýt chết nếu không được một người con gái chân bò tốt bụng, tín tâm dâng cúng bát sữa bò. Tỉnh lại, Ngài thấy sự chọn lựa khổ hạnh là sai lầm nghiêm trọng, chẳng những không tìm ra được đạo mà còn thiệt thân. Ngài bỏ con đường cũ, ăn uống lại bình thường, bước sang con đường mới, thực hiện thiền quán và sau bốn mười chín ngày đêm thiền định quán chiếu dưới cội bồ-đề, tìm ra được đạo.

Nội Dung Của Giáo Lý Trung Đạo

Con đường “Trung Đạo” là một trong số giáo lý cột lõi của Phật giáo, là nền tảng của hệ thống giáo lý đó số sau này. Nó rất giản dị, dễ hiểu, dễ làm, ai cũng thực hiện được. Ngay sau khi thành Phật, Đức Phật vã thăm các vị tu sĩ Bà-la-môn trước kia nhưng hai vị đó đã chết. Ngài bèn đến thăm năm anh em Kiều Trần Như, kể cho họ nghe mỗi chuyện xảy ra với Ngài trong thời gian tu khổ hạnh, quá trình tham thiền nhập định, tìm ra được đạo.

Đạo của Phật Thích Ca chủ yếu nói đến Khổ, nguồn gốc sanh ra Khổ và con đường diệt Khổ. Theo Ngài thì mỗi người đều có hai lối sống, một là sống khoái lạc, hai là sống khổ hạnh, tự hình hạ mình. Những người sống khoái lạc thường báo nhau hãy hưởng thụ tháa của đời kéo mai không còn sống nữa. Những người sống khổ hạnh thì nói ngược lại, phải diệt tất cả các đòi hỏi vì chúng tạo ra khổ nào luôn hồi.

Ngài bác bỏ cả hai cách sống đó vì chúng đều cực đoan, không tốt cho con người và để ra cách sống tốt nhất là không thiên về nào mà phải sống ở chính giữa hai con đường khoái lạc và khổ hạnh gọi là “Trung Đạo”. Giáo lý này được trình bày rõ ràng trong Bát-chánh Ðạo (Tám nhánh của Trung Đạo): Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngôn ngữ, Chánh hành động, Chánh sinh kế, Chánh tinh tấn, Chánh định và Chánh niệm.

Đức Phật dạy: “Chư Khất sĩ, quý vị nên biết rằng có hai cực đoan mà con người không nên theo. Một là cái thói quen buông thả để bị cuốn hút vào các đam mê quyền rũ, nhất là nhạc dục. Đây là cách tìm kiếm thoả mãn một cách man rợ, thấp hèn, bất lợi. Cách thứ hai, ngược lại, là khổ hạnh hay tự hình xác, là lối sống đau đớn, thấp kém, bất lợi. Có một lối ở giữa tránh được cả hai cực đoan đó mà quý vị nên biết. Đây là con đường Trung Đạo mà tôi rao giảng đó”.

Con đường “Trung Đạo” không triệt tiêu khoái lạc và khổ hạnh mà kìm hãm, hạn chế tới đa thứ thèm khát hoặc ép xác. Mỗi người, ai cũng có nhiều thèm khát chảy bởi dục lạc thế gian, tiền tài danh lợi, sung sưởng hạnh phúc. Sau khi trở thành tu sĩ, những thèm khát đó được thay thế bằng khát vọng “thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải”, giải thoát khổ nào, chứng đắc Bộ-Đề.

Sự Khác Biệt Giữa Thèm Khát Và Ép Xác

Hai loại thèm khát luôn tồn tại trong tâm thức hàng ngày, chỉ khác nhau ở chỗ chúng biểu hiện yếu hay mạnh mà thôi. Thèm khát và ép xác xuất phát từ vọng tâm. Theo lời dạy của Đức Phật, “Vọng tâm sinh khởi thì các pháp đều sinh khởi. Vọng tâm diệt đi thì các pháp đều diệt” (Tổ Mã Minh). Do đó, muốn kìm hãm, hạn chế được chúng trước tiên phải chế ngự được vọng tâm.

Cần phải hiểu rõ rằng ép xác không chỉ ép thân thể mà còn ép cả tinh thần. Khi thân thể bị hành hạ, không được ăn uống đầy đủ sẽ ốm o gây mòn, nhiều bệnh tật thì tinh thần chỉ lo tìm cách chống lại đó đơi khát, đau đớn chứ có thời gian đâu nghiên cứu và làm chuyện khác? Một thân thể trắng kiến mới có một tinh thần minh mẫn, còn một thân thể yếu đuối bệnh hoạn thì chỉ có một tinh thần bạc nhược u tối mà thôi.

Để có thân thể trắng kiến, tinh thần minh mẫn chỉ có cách duy nhất là không tự hình hạ mình, ăn uống đầy đủ, sinh hoạt bình thường. Đức Phật dạy rằng, “Giữ thân thể khỏe mạnh là bổn phận đầu, vì nếu không thì quý vị không thể có trí tuệ sáng suốt, và ngọn đèn trí tuệ không thể sáng được”.

Giáo Lý Về Giới Đạo Và Hạnh Đạo

Ngoài việc thực hành Tâm Thánh Đạo, còn phải thực hành cả Giới Đạo và Hạnh Đạo. Giới Đạo với nền tảng là năm giới: không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Nó là năm nguyên tắc căn bản trong cuộc sống để trở thành con người tốt. Hạnh Đạo gồm có nhiều pháp hành khác nhau như Đạo Đức (tránh làm điều ác, chỉ làm điều thiện), Tự bi (đem yêu thương đến với mỗi người), Bộ Thí (tự nguyện cho đi để giải thoát khổ đau).

Những phẩm hạnh này phải được thực hiện một cách tuyệt đối chứng mới có ý nghĩa đích thực. Nhưng, để được như vậy, nó đòi hỏi người thực hiện phải có đủ trí tuệ, không đủ trí tuệ họ sẽ nghĩ và làm sai lệch hoặc mù quáng. Ngoài trí tuệ, Phật còn nhấn mạnh việc thực hiện Đạo hạnh cần phải đi đôi với Bát-nhã nữa. Bát-nhã hay Bát-nhã Ba-la-mật nghĩa là “Trí tuệ rỗi ráo”, là sáng suốt thông minh và hiểu biết tuyệt đối.

Đức Phật nói về ích lợi của nó, “Ngoài ra còn có lý do nữa cho sự cần thiết của Bát-nhã Ba-la-mật. Ta phải lập hạnh Bộ Thí. Nhưng nếu không có Bát-nhã thì việc bộ thí đó có thể thành phản tác dụng. Ta phải thực hành hạnh Tự bi. Nhưng không có sự sáng suốt thì lòng tự bi đó dần dà có thể chiều dương tính xấu”.

Ứng Dụng Trung Đạo Trong Đời Sống Hiện Đại

Năm anh em Kiều Trần Như hết lời ca ngợi, tán dương Ngài và Đạo của Ngài. Họ nói rằng: “Trước nay chưa có minh sư của một tôn giáo nào dạy rằng căn bản chân chính của Đạo là việc nhận thức được sự khổ đau của nhân loại. Và chưa bao giờ có một vị minh sư nào dạy rằng diệt khổ là mục đích chính của Đạo như Ngài dạy. Chưa bao giờ một phương pháp cứu rỗi lại được để ra một cách thật giản dị, không có yếu tố siêu nhiên và siêu nhân.”

Con đường “Trung Đạo” là một đạo pháp thật độc lập, hay có thể nói là thật đối nghịch với những pháp thông thường khác hay đặt trọng tâm vào linh hồn, vào tưởng đế và vào cuộc đời sau khi chết. Trước nay thế gian chưa bao giờ có một Đạo nào không dính dáng gì đến thiên khải, tiên tri huyền bí; mà các điều rằn dạy của Đạo đều xuất phát từ các nhu cầu cuộc sống của con người, chứ không từ những cảm điều của thần thánh.

Chưa bao giờ mà sự giải thoát được hình thành từ ân huệ hạnh phúc do con người tự đạt được trong đời này, ở cõi này, bằng lối sống chân chính, đạo đức của bản thân như Đạo này. Con đường “Trung Đạo” cho thấy rằng giải thoát khổ không phải do sự can thiệp của các thần linh mà do chính thực hành của con người, bằng trí tuệ và tự bi kết hợp với những hành động đúng đắn trong cuộc sống.

Tầm Quan Trọng Của Trí Tuệ Trong Tu Tập

Tóm lại, con đường “Trung Đạo” là một trong số giáo lý cột lõi của Phật giáo, là nền tảng của hệ thống giáo lý đó số sau này. Nó rất giản dị, dễ hiểu, dễ làm, ai cũng thực hiện được. Tuy nhiên, Phật lại dạy rằng, sau khi nghe bất cứ giáo lý nào của Ngài, chúng ta chớ vội tin ngay, làm theo ngay mà hãy dùng trí tuệ suy xét thật kỹ trước khi thực hiện (văn, tư, tu).

Bởi vì, trí tuệ và tự bi là hai trụ cột chính nâng đỡ ngôi nhà Phật giáo. Nếu không có nó, ngôi nhà đó là làm sao đứng vững và tồn tại hơn 2.500 năm nay trước nhiều phong ba bão tập? Cho nên, bất cứ việc làm nào không có sự tham gia của trí tuệ, nó sẽ trở thành việc xấu hoặc mù quáng, nó sẽ trở thành cái mê vô minh làm mê Chính kiến, không phát huy được chính tín, sa đọa vào con đường mê tín, không hiểu được ý nghĩa chân thật của Đạo.

Vì vậy, khi tu học con đường “Trung Đạo”, hãy luôn nhớ rằng sự cân bằng không phải là sự trụy lạc mà là trí tuệ thực hành đúng đắn. Đạo giáo dạy rằng không vì sợ khổ mà dốn mình vào khoái lạc, cũng không vì tham lam giải thoát mà tự hành hạ. Thay vào đó, hãy sống sao cho thân thể khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn, hành động chính trực, lời nói thành thực và một trái tim tràn đầy từ bi. Đó chính là con đường “Trung Đạo” mà Đức Phật đã chỉ dạy cho chúng ta.

Related posts

Phật Dạy: Chuyển Hóa Mười Ác Nghiệp Thành Mười Thiện Nghiệp, Đời Sau Sinh Vào Thiên Xứ

Administrator

Lời Phật Dạy Nguyên Tắc Sống Chung An Lạc Trong Tăng Đoàn

Administrator

Lời Dạy của Đức Phật về Đản Sinh: Từ Lòng Đại Từ Đến Giáo Pháp Cứu Độ

Administrator