Image default
Luận Giải & Nghiên Cứu Phật Học

Công Cuộc Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và Đóng Góp của Phật Giáo Việt Nam

Bộ tác phẩm “Light of Asia” (Ánh Sáng Á Châu) xuất bản năm 1879 tại Boston, Massachusetts, do nhà thơ người Anh Edwin Arnold sáng tác, đã mở ra một chương mới cho lịch sử phát triển của Phật giáo tại phương Tây. Tác phẩm này, với những lời thơ trang trọng, đã giới thiệu cuộc đời Đức Phật đến với độc giả Hoa Kỳ, trở thành một dấu mốc quan trọng trong quá trình hoằng truyền Phật pháp tại đất nước này. Kể từ đó đến nay, tác phẩm đã được tái bản hơn 80 lần với tổng cộng trên một triệu cuốn được xuất bản, và đã được dịch sang hầu hết các ngôn ngữ Âu châu.

Phật giáo Hoa Kỳ đã trải qua ba giai đoạn phát triển rõ rệt, mỗi giai đoạn mang những đặc trưng riêng về cách tiếp cận, ứng dụng và lan tỏa giáo pháp. Hành trình này không chỉ phản ánh sự phát triển của Phật giáo mà còn cho thấy sự thích ứng linh hoạt của giáo lý với nền văn hóa và tâm lý con người Tây phương.

Giai Đoạn Du Nhập Trước Năm 1879

Trước khi Phật giáo chính thức được công nhận rộng rãi tại Hoa Kỳ, những dấu tích của nền văn hóa Phật giáo đã xuất hiện qua nhiều kênh đúc kết. Các học giả phương Tây đã bắt đầu nghiên cứu và dịch thuật các kinh điển Phật giáo từ khá sớm. Năm 1761, ông M. de Guignes, một học giả người Pháp, đã phiên dịch và phổ biến tài liệu từ văn khư Trung Quốc về tăng sĩ Phật giáo người Hoa tên là Hwui Shan cùng các vị sư khác đã đến châu Mỹ năm 458. Những công trình dịch thuật như “Essay on the Pali” (Văn Pháp Pali) năm 1826 của Eugene Bournouf, những bản dịch Kinh Pháp Hoa vào tiếng Pháp và tiếng Anh đã giúp giới trí thức phương Tây bước đầu tiếp cận với những tư tưởng sâu sắc của Phật giáo.

Công cuộc hoằng pháp tại Hoa Kỳ và đóng góp của Phật giáo Việt NamCông cuộc hoằng pháp tại Hoa Kỳ và đóng góp của Phật giáo Việt Nam

Những nhân vật nổi bật như H.D. Thoreau, Max Miller và các học giả khác đã có công trong việc làm quen giới trí thức Hoa Kỳ với những kinh điển Phật giáo. Các công trình này không chỉ cung cấp kiến thức học thuật mà còn mở ra một cửa sổ để con người phương Tây nhìn thấy chiều sâu tâm linh của Đạo Phật. Phong trào khám phá phương Đông đã không ngừng mở rộng, với mục đích lúc đầu là học hỏi để phục vụ cho mục đích cai trị, nhưng dần dần trở thành một nhu cầu chân chính trong việc tìm tòi tri thức và giải đáp những câu hỏi tâm linh.

Giai Đoạn Hình Thành (1879-1963)

Đóng Góp Của Đại Tá Henry Olcott

Đại Tá Henry Steel Olcott (1832-1907) là một trong những nhân vật then chốt trong việc chuyển tải Phật pháp đến phương Tây. Sinh tại New Jersey, ông đã bỏ rất nhiều công sức không chỉ để hoằng pháp tại Hoa Kỳ mà còn để phục hưng Phật giáo tại các nước Á châu. Năm 1875, ông cùng Helena Blavatski thành lập Hội Thông Thiên Học (The Theosophical Society) nhằm nghiên cứu Phật pháp cùng các tôn giáo khác và khoa học. Hội này đã phát triển thành một tổ chức quốc tế với chi nhánh ở trên 60 quốc gia.

Sự có mặt của Olcott tại Tích Lan năm 1880 đã mang lại những thay đổi sâu sắc. Cùng với Blavatski, ông tiến hành những hoạt động phục hưng Phật giáo như việc thành lập trường học Phật giáo, nhà xuất bản, và kêu gọi những lần rước kiếu từ Phật trong các ngày lễ. Đặc biệt, năm 1881, khi ông quy y Tam Bảo cùng với Blavatski tại Tích Lan, đây được xem là một sự kiện kỳ tích, mang lại tinh thần mạnh mẽ cho dân chúng trong công cuộc chấn hưng Phật giáo.

Đại Tá Henry Steel Olcott và bà Helena Petrova BlavatskiĐại Tá Henry Steel Olcott và bà Helena Petrova Blavatski

Nhận thức rằng công việc hoằng pháp cần được thực hiện rộng rãi, Olcott đã tổ chức các khóa thuyết giảng tại nhiều tỉnh thành, xây dựng các trường học Phật giáo, và phát hành tài liệu giáo dục tại Tích Lan cũng như các quốc gia Á châu khác như Nhật Bản, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ. Ông cũng phục hưng lễ rước kiếu Phật trong ngày Phật Đản, trùng tu chùa chiền, và thúc đẩy tái thiết Phật giáo tại các vùng đã bị suy sụp. Nhờ vậy, Phật giáo Tích Lan đã có những dấu hiệu phục hồi trong thời gian ngắn. Năm 1891, ông cùng Đại Sư Anagarika Dharmapala thành lập Hội Mahabodhi nhằm phục hưng Phật giáo Ấn Độ. Năm 1950, tại Đại hội Phật giáo Thế giới (The World Fellowship of Buddhist) lần đầu tiên tổ chức tại Columbo, Tích Lan, có sự tham dự của 26 nước, cờ Phật giáo do Olcott thiết kế được công nhận là cờ Phật giáo Thế giới.

Phiên Dịch Kinh Tạng Pali

Công việc phiên dịch toàn bộ kinh tạng Pali sang tiếng Anh do Hội Nghiên Cứu Pali (The Pali Text Society) thực hiện là một khác công lớn. Hội được thành lập năm 1881 dưới sự lãnh đạo của T.W.Davids, một học giả nổi tiếng về Phật học. Hội đã quy tụ nhiều chuyên gia Pali và tiến hành công việc dịch thuật một cách hệ thống. Sau khi ông Davids qua đời, vợ ông tiếp tục công việc này và cuối cùng toàn bộ kinh tạng Pali đã được dịch sang tiếng Anh. Những kinh sách bằng tiếng Anh này đã tạo thuận lợi cho giới trí thức phương Tây trong việc đi sâu vào giáo lý Phật Đà.

Paul Carus và Nổ Lực Mỹ Hóa Đạo Phật

Paul Carus (1852-1919), một phát tử gốc Đức, sinh ra trong gia đình có tinh thần tôn giáo nhưng đã mất niềm tin vào truyền thống Cơ Đốc giáo cũ. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ ngôn ngữ học, ông sang Mỹ với mục đích tìm kiếm các con đường mới cho tâm linh. Năm 1893 tại Đại hội Tôn Giáo Thế Giới (The World Parliament of Religions) tổ chức ở Chicago, Paul Carus đã có cơ hội tiếp xúc học hỏi với các cao tăng Phật giáo, từ đó khám phá được Đạo Phật với sự hết lòng và nhiệt thành.

Với ông, Phật giáo là con đường đúng đắn để phát triển tâm linh, là tôn giáo dựa vào lý trí, thực nghiệm và khoa học. Năm 1894, Carus sáng tác “Gospel of Buddha” (Phúc Âm của Phật) và “Karma” với mục đích hiện đại hóa Đạo Phật và đem Đạo Phật hòa vào văn hóa tư tưởng phương Tây. Với 38 tác phẩm, ông nhằm chứng minh giá trị của Đạo Phật trong việc đáp ứng nhu cầu tâm linh mà con người phương Tây đang khao khát.

Paul Carus (1852-1919)Paul Carus (1852-1919)

Carus không ngần ngại sử dụng các hình thức Cơ Đốc giáo quen thuộc với người phương Tây để chuyển tải triết lý và phương pháp tu trì của Đạo Phật. Ông nhìn thấy bản tính Đức Phật A Di Đà của Tịnh Độ tông có thể thay thế hình ảnh Thượng Đế hữu hình. Trong ước muốn phổ cập Đạo Phật với quần chúng Hoa Kỳ, ông đã bảo trợ cho Đại Sư Dharmapala sang Hoa Kỳ hoằng pháp trong nhiều năm, cũng như hỗ trợ công cuộc hoằng pháp của Thiền sư D.T.Suzuki.

Thiền Sư D.T.Suzuki: Cầu Nối Văn Hóa

Thiền Sư Daisetsu Teitaro Suzuki (1870-1966) là một nhân vật có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của Phật giáo tại phương Tây. Thiền sư đến Mỹ năm 1897 và tá túc tại nhà Paul Carus 11 năm. Hai người đã hợp tác phiên dịch nhiều kinh sách sang tiếng Anh và tiếng Nhật, giới thiệu tư tưởng phương Đông và Phật giáo đến với giới trí thức phương Tây. Năm 1911, Suzuki thành hôn với Beatrice Erskine Lane, một hội viên của Hội Thông Thiên Học. Cặp vợ chồng đã hợp tác cùng nhau xuất bản đặc san “The Eastern Buddhist” (Phật Tử Phương Đông).

Những tác phẩm của Suzuki về Thiền, phiên dịch các kinh điển Đại thừa, đã mở ra một chân trời mới cho giới trí thức phương Tây. Trong thế kỷ 19, giới Âu Mỹ hiểu biết nhiều đến Phật giáo Nam truyền nhờ công việc phiên dịch kinh Pali, nhưng hiểu biết về Đại thừa rất khiêm nhượng vì chỉ có vài cuốn kinh được dịch ra ngôn ngữ Âu châu. Khi những cuốn sách của Suzuki viết về Thiền, cũng như Phật giáo Bắc truyền được ra mắt, tâm thức phương Tây đã tiếp xúc với chân trời mênh mông của Đại thừa.

Tinh thần phóng khoáng, tự do, vô chấp, giải thoát của Thiền đã gây hứng thú kinh ngạc cho độc giả Âu Mỹ, giúp họ tìm thấy lối thoát trong sự khủng hoảng của triết học và thần học phương Tây trước sự phát triển của khoa học. Những cuốn sách của Suzuki rất được mọi giới trân trọng và tạo nên một phong trào học Thiền trong những thập niên 50 và 60. Danh từ “Zen” được Suzuki giới thiệu và trở thành danh từ phổ biến đồng nghĩa với chữ Phật giáo, vì giới trí thức phương Tây khi nói đến Phật giáo chỉ biết đến Thiền.

Thiền Sư D.T.Suzuki (1870-1966)Thiền Sư D.T.Suzuki (1870-1966)

Suzuki giảng dạy Phật pháp và Thiền tại Đại học Columbia và nhiều trường đại học khác, gây ảnh hưởng rất mạnh với Carl Jung, Kaen Honey, Erich Fromm, Martin Heidegger, Thomas Merton, Allen Watts, Jack Kerouac, Allen Ginsberg, Gary Snyder và nhiều nhân vật nổi tiếng khác. Một số sử gia đã tán dương Suzuki là người đã giúp phương Tây phá vỡ bức tường ngăn cách, vượt qua những hạn hẹp khu vực để phóng tầm nhìn ra chân trời bao la của thế giới.

Giai Đoạn Phát Triển (1963 Đến Nay)

Năm 1963 là một dấu mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển biến trong quá trình phát triển Phật giáo tại Hoa Kỳ. Sự kiện tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Độc tại Sài Gòn nhằm cầu nguyện cho hòa bình và công bằng xã hội đã chứng minh sức mạnh nội tâm của Đạo Phật và chấn động lương tâm nhân loại. Hình ảnh một vị sư ngồi kiết tịch an nhiên trong ngọn lửa hồng đã chứng minh sức mạnh nội tâm của Đạo Phật và chấn động lương tâm nhân loại trên toàn thế giới.

Sự Hiện Diện Của Các Vị Đạo Sư

Chưa bao giờ nước Mỹ có nhiều bậc đạo sư phương Đông, nhiều cao tăng Phật giáo đến giảng dạy như giai đoạn này. Các vị như: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Hòa Thượng Tuyên Hóa, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, Thiền Sư Sungsan đã đến và hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Trong giai đoạn này, chủ tâm chuyển nhiều vào sự tu tập thực tiễn. Rất nhiều trung tâm tu tập được thiết lập khắp nơi với những khóa tu từ một hai ngày đến hàng tuần, hàng tháng hay nhiều năm liên tục.

Sự Tu Tập Thực Tiễn

Nếu trong giai đoạn trước Phật giáo được biết đến trên phương diện kiến thức thì giai đoạn này Phật giáo Mỹ đã chú trọng vào sự thực tập. Sự tu tập Phật giáo không nhưng đem lại sự an vui giải thoát cho mai hậu mà còn đem lại an lạc cho cuộc sống hiện tại. Cuộc sống tại Mỹ quá căng thẳng do đó những khóa tu đã đem lại sự thư giãn, quân bình cho đời sống tâm lý. Con người cảm thấy lạc quan hơn và tảo tạo hơn sau những khóa tu, cũng như cảm nhận được những niềm vui sâu sắc trong lúc thiền tập. Vì lẽ đó những trung tâm tu tập lúc nào cũng đông người tham dự. Những ứng dụng thiền tập vào khoa tâm lý trị liệu cũng ngày càng phổ biến và đã mang lại những kết quả khả quan. Có những bệnh viện đã áp dụng thiền tập để chữa trị những bệnh tâm lý mà các bác sĩ khó có thể nói đó là thiền vì muốn tránh những thành kiến tôn giáo trở ngại cho công cuộc điều trị.

Các Hoạt Động Xã Hội

Phật giáo Hoa Kỳ đã nhập thế vào những hoạt động xã hội như: The Buddhist Alliance for Social Engagement giúp đỡ những người vô gia cư tại bệnh viện, nhà tựu; Greyston Mandala do Thiền Sư Bernard Glassman thành lập nhằm giúp những người vô gia cư tại New York; Zen Hospice Project giúp những người sắp qua đời được chết trong bình an. Những hoạt động này cho thấy Phật giáo không chỉ quan tâm đến tu tập cá nhân mà còn chăm sóc cộng đồng xã hội.

Giáo Dục Phật Học

Nhận thức rằng công việc truyền thừa là nhiệm vụ quan trọng trong việc duy trì và phát huy Phật giáo tại Hoa Kỳ, các trung tâm tu tập đều có những chương trình giáo dục. Barre Center for Buddhist Studies tổ chức mỗi năm hai tuần tu học. Naropa University tại Boulder, Colorado; Dharma Realm University tại Talmage, California; các đại học lớn của Mỹ như Harvard, Yale, Columbia, Berkeley đều có chương trình Phật học.

Trong giai đoạn này Phật giáo thật sự bén rễ vào xã hội Hoa Kỳ. Các truyền thống Phật giáo đều có mặt tại Mỹ với những đóng góp tích cực trong công cuộc hoằng truyền Phật pháp. Ngoài những cộng đồng người Hoa, còn có các cộng đồng Á châu khác của người Nhật, Tây Tạng, Việt, Thái, Lào, Cam Pu Chia, Miến Điện, Tích Lan, Triều Tiên với những sinh hoạt cá biệt đã làm cho Phật giáo Mỹ có những màu sắc phong phú.

Kinh Nghiệm Hoằng Pháp Của Các Truyền Thống

Truyền Thống Theravada

Nam truyền Phật giáo đã đến Hoa Kỳ rất sớm. Năm 1893, Đại Sư Anagarika Dharmapala đã đến Hoa Kỳ hoằng pháp cho đến đầu thế kỷ 20. Tuy có những thuận duyên như kinh tạng Pali đã được dịch sang tiếng Anh, nhưng sau ngài Dharmapala công cuộc hoằng pháp bị gián đoạn vì thiếu các sư thông thạo Anh ngữ để hoằng hóa.

Mãi đến năm 1966, The Buddhist Vihara Society of Washington được thành lập. Sau đó các chùa Thái, Miến Điện, Tích Lan lần lượt được thành lập. Thiền viện Stillpoint do một thanh niên người Mỹ thành lập tại San Jose, California năm 1971. Thiền Vipassana đến Mỹ năm 1980 do những người học trò của Thiền Sư Mahasi Sayadaw khởi xướng. Chủ trương không chú trọng nhiều đến hình thức sinh hoạt của Nam tông mà chú trọng vào hành thiền để giúp người buộc căng thẳng, khổ đau, thêm tự tin, tăng trí tuệ.

Sau chiến tranh Việt Nam, những cộng đồng Đông Nam Á di cư đến Mỹ ngày càng nhiều do đó những ngôi chùa đã được thành lập để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng. Trên toàn nước Mỹ có khoảng 100 chùa Nam tông do các phật tử Thái, Miến Điện, Tích Lan, Lào, Cam Pu Chia thành lập.

Truyền Thống Trung Hoa

Những công nhân Trung Hoa đến Mỹ từ năm 1848 khi vàng được tìm thấy tại San Francisco. Từ năm 1860 đến cuối thế kỷ có khoảng 63 ngàn công nhân Trung Hoa đến làm việc cho công ty đường sắt. Những thế hệ của những người Hoa đầu tiên vì nhớ quê hương đã thành lập mấy trăm ngôi chùa nhỏ nơi họ sinh sống để làm nơi nương tựa về tâm linh. Nhưng những ngôi chùa này sau đó đã không duy trì được vì thiếu sư trụ trì bảo quản, vì ngôn ngữ bất đồng, vì Phật giáo bị kỳ thị, vì thế hệ trẻ không được giáo dục về Phật giáo và bị Mỹ hóa.

Tuy tín tâm của người Hoa rất mạnh và ý thức về truyền thống vững chãi nhưng thế hệ của đợt di cư đầu tiên không thành công trong việc duy trì văn hóa tín ngưỡng của mình. Nhưng từ sau năm 1949, đợt di cư thứ hai gồm những người có tài sản và học thức. Họ xây dựng những ngôi chùa lớn có tăng ni hưởng dẫn, tổ chức những khóa tu học cho người lớn và trẻ em. Chùa Tây Lai ở California có Đại học Phật giáo, Văn Phật Thánh Thành có Đại học Dharma Realm University, Chùa Chuang Yen ở tiểu bang New York đã đưa Đại Tạng Kinh vào CD-ROM.

Truyền Thống Nhật

Thiền Sư Soyen Shaku đến Hoa Kỳ năm 1893 dự Hội nghị Tôn Giáo tại Chicago và bắt đầu cuộc hoằng hóa. Sau đó có các thiền sư khác tiếp tục như Shinryu Suzuki, Sogaku Harada. Những nỗ lực của các thiền sư Nhật đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong đời sống tín ngưỡng của Hoa Kỳ. Hiện nay, khắp nước Mỹ có khoảng 150 trung tâm thiền.

Truyền Thống Tây Tạng

Sau khi Trung Quốc xâm lăng Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma rời thủ đô Lhasa năm 1959 cùng với hơn trăm ngàn dân Tây Tạng sang tị nạn tại Ấn Độ. Trong số những người tị nạn đó có rất nhiều vị là những bậc cao tăng thác Phật giáo Tây Tạng. Do đó bắt đầu từ những năm 60, các vị Lạt Ma Tây Tạng đã bắt đầu sang hoằng pháp tại các nước phương Tây và đạt được rất nhiều thành tựu to lớn. Hiện nay trên khắp nước Mỹ có trên 200 trung tâm Phật giáo Tây Tạng.

Đóng Góp Của Phật Giáo Việt Nam

Sau năm 1975, lần sóng người Việt sang định cư tại Hoa Kỳ càng lúc càng nhiều. Tổng số lên đến hai triệu người ở rải rác trên khắp 50 tiểu bang của Mỹ. Tập trung đông nhất ở hai tiểu bang California và Texas. Sau khi cuộc sống đã ổn định, nhu cầu tín ngưỡng là nhu cầu cấp thiết. Phần vì cần điểm tựa cho tinh thần nơi đất khách quê người, phần vì muốn duy trì văn hóa tín ngưỡng dân tộc, phần vì nhớ thân nhân, phần vì nhớ quê hương là những đông cơ thúc đẩy người Việt lập chùa. Sau những giờ làm việc cực nhọc đến chùa gặp những người thân quen hầu như tương tàng là búi buồn xa xứ.

Từ năm 1975 đến nay khắp nước Mỹ người Việt đã xây dựng được trên 200 ngôi chùa. Nơi nào có người Việt nơi đó có chùa. Với số lượng chùa nhiều, phật tử đông và chỉ tăng ni hưởng dẫn, Phật giáo Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho việc hoằng

Related posts

Quan Niệm Sai Lầm Về Thần Trung Âm (Peta) Trong Phật Giáo

Administrator

Tuệ Trung Thượng Sĩ: Tình Thương và Sự Bao Dung

Administrator

Sám Hối: Con Đường Thanh Tẩy Tâm Hồn Trong Phật Giáo

Administrator