Image default
Luận Giải & Nghiên Cứu Phật Học

Độ Người Hấp Hối Theo Kinh Tạng Nikaya

Hấp hối có nghĩa là gần chắc, tức sắp chết. Qua các bài kinh trong Kinh Tạng Nikaya, Phật giáo đã ghi chép những phương pháp độ người đang hấp hối – giúp họ vượt qua giai đoạn cuối cùng của cuộc sống với tâm an định, nương tựa vào Tam Bảo và các giáo pháp thiêng liêng.

Tâm Thức Lúc Cận Tử – Yếu Tố Quyết Định Thế Thái Lai

Theo Phật giáo, tâm thức ở thời khoảnh khắc cận tử có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xác định cảnh giới sanh thế tương lai. Không phải tất cả các chúng sanh đều biết được thời điểm mình sắp lìa đời, nên khó tự chủ tâm tứ khi hấp hối. Chính vì thế, những hoàn cảnh và hỗ trợ từ người thân, từ những vị xuất gia tu hành, thể hiện sự quan tâm đặc biệt từ Phật và các đệ tử của Ngài.

Các Trường Hợp Độ Người Hấp Hối Ghi trong Kinh Tạng

Kinh Tạng Nikaya ghi nhận nhiều trường hợp người sắp chết được độ vượt qua giai đoạn khó khăn này nhờ sự trợ niệm của chính Phật hay các đệ tử xuất chúng.

Trường Hợp Tôn Giả Pukkusati

Từ lâu, Pukkusati quy hướng Đức Phật và xuất gia, dù chưa chính thức gặp Ngài. Khi cả hai cùng lưu trú tại nhà thợ thú gọi là Bhaggava, Pukkusati lần đầu tiên thấy Đức Phật, nghe Ngài giảng pháp và phát tâm cầu thỉnh giới. Trong quá trình đi tìm y bát để thực hiện giới luật Tỳ-kheo, một con bò cuồng chạy tới và cướp mất sinh mạng của Tôn Giả. Lúc đó, Đức Phật xác chứng rằng Pukkusati đã chứng được quả Tư Thánh – Quả A-la-hán, vậy nên sự xuất khiên của tôn giả đã hướng dẫn tâm của anh ta tới chính tắc.

Trường Hợp Phụ Nữ Nghèo Kasapa

Một phụ nữ nghèo khác, khi biết được Tôn Giả Kasapa sắp tịnh duyên, đã phát tâm cúng dâng phần lửa ít ỏi của mình cho Tôn Giả. Sau khi cúng xong và hoan hỷ từ tâm, trên đường đi, nữ nhân bất ngờ bị rắn độc cắn tử vong. Chính vì cái chết trong tâm tín tâm, cùng với thiện sự vừa làm, nên nữ nhân tức khắc sanh lên cõi trời Ba mươi ba với tên gọi là thiên nữ Lâj-jâ.

Trường Hợp Thân Phụ Của Tôn Giả Soṇa

Thân phụ của Tôn Giả Soṇa trước đây làm nghề sản bản. Vì giáo dục nơi mỗi người và sự xúc cảm về cuộc sống, ông ta xuất gia và trở thành Tỳ-kheo. Lúc lìa đời, những ác nghiệp trong quá khứ diễn ra kinh hoàng. Thấy vậy, Tôn Giả Soṇa đã cho người khiêng bố đến gần một bảo tháp và cắt những cánh hoa rơi xuống, yêu cầu bố hướng tâm cúng hoa lên Tương Phật và Bồ-Tát. Ngay lúc đó, những cảnh tượng kinh hoàng biến mất, và ông được sanh lên Thiên giới.

Trường Hợp Bà-la-môn Dhānañjani

Vị Bà-la-môn này vốn là người theo Phật, luyện tập Brahma thiền và có thiện cảm với Tôn Giả Sāriputta. Mặc dù chưa chính thức quy y Tam Bảo, nhưng khi sắp chết, Bà-la-môn đã yêu cầu Tôn Giả Sāriputta đến. Tôn Giả Sāriputta nhận xét rằng vị Bà-la-môn này rất luyện tập trong Brahma thiền, nên thuyết pháp liên quan đến con đường cộng trừ với Brahma thiền. Ngay tức khắc, Bà-la-môn Dhānañjani mệnh chung và sanh lên Brahma thiền giới.

Bốn Thành Tích Pháp – Niệm Về Tam Bảo

Theo Kinh Đại Bát Niết-bàn, có bốn thành tích pháp gọi là “Tứ Đông Tâm” – những nơi thiêng liêng để người công đức ghi nhớ: nơi Như Lai đản sanh, nơi Như Lai chứng Vô thượng Chính giác, nơi Như Lai thuyết pháp lần đầu tiên, và nơi Như Lai nhập Niết-bàn.

Kinh này cũng ghi rằng nếu ai, trong khi chiêm bái những Thành tích mà từ trước vói tâm thâm tín hoan hỷ, thì sau khi thân hoại mạng chung, những vị như vậy sẽ được sanh vào cảnh giới chỉ Thiên – một cõi an lành cao quý. Yếu tố quan trọng ở đây là cần phải chiêm bái với lòng tâm thâm tín hoan hỷ từ trước, hoặc ít nhất khi sắp chết, tâm tín đó vẫn còn sáng rõ.

Phương Pháp Độ Người Hấp Hối

Tùy theo nghiệp lực dắt dẫn mà mỗi người có một trạng thái hấp hối khác nhau. Kinh Tạng Nikaya ghi nhận nhiều cách thức độ người hấp hối, từ hóa giải những tâm nguyện còn dở dang cho đến trang bị những nhận thức cao siêu.

Hóa Giải Ước Nguyện Lúc Lìa Đời

Với nhiều người, những tâm nguyện mà họ ôm ấp suốt đời vẫn chưa thành tựu, và tâm nguyện đó bất chợt được thời bùng lên trong lúc lìa đời. Trong vai trò yểm trợ người hấp hối, cần phải linh động tùy theo từng loại tâm nguyện, giúp họ thấu gỡ những ước muốn không tốt, đồng thời khuyến khích những tâm nguyện tích cực.

Câu Chuyện Gia Chủ Nakula

Một trường hợp đáng suy ghi là câu chuyện gia chủ Nakula. Khi vợ – mẹ của Nakula – sắp chết, bà lo lắng về vài vấn đề sinh kế. Vợ Nakula đã nhẹ nhàng chỉ ra rằng chính bà có kỹ năng dệt vải và chăi lông cừu để nuôi con em, nên không cần lo lắng. Gia chủ Nakula cũng hỏi xem liệu sau khi anh chết, vợ anh sẽ còn muốn hành động với lòng phúc đức hay không. Nhận được sự xác nhận rằng bà sẽ muốn tiếp tục các hành động đó thậm chí nhiều hơn, gia chủ Nakula liền bộc lộ những tâm nguyện tích cực của mình liên quan đến tu học và Phật pháp.

Sau đó, Đức Phật – người khi ấy có mặt – đã tán thán gia chủ Nakula vì cách ông ta được vợ chỉ dạy để giải quyết những lo lắng. Đức Phật xác nhận rằng với những sự trợ duyên từ gia đình, gia chủ Nakula đã tạo điều kiện để lìa đời an tâm.

Độ người hấp hối theo kinh tạng Nikaya - Hình ảnh chiêm bái tại chùaĐộ người hấp hối theo kinh tạng Nikaya – Hình ảnh chiêm bái tại chùa

Trong những trường hợp khác, người yểm trợ cũng tùy theo ước nguyện cụ thể của người lìa đời để an ủi. Nếu vị đó nói “Tôi còn có lòng thương nhớ cha mẹ”, thì có thể nhắc nhở rằng “Tôn giả thế nào cũng phải chết. Dù Tôn giả có lòng thương nhớ hay không cũng sẽ phải chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy tự bỏ lòng thương nhớ đó”. Tương tự với những lo lắng khác như việc lo lắng về vợ, con hay về giới pháp.

Qua những trường hợp này, có thể thấy rằng việc lắng nghe, an ủi và chỉ dạy cách thở gỡ những tâm ưu tư của người sắp mất, thậm chí chỉ bằng những lời dạy đơn giản như vậy, cũng đủ để thay đổi tinh thần người hấp hối, giúp họ hướng tâm vào những điều tích cực.

Tứ Bất Hoại Tín – Nền Tảng Tinh Thần Vật Chắc

Khi Bà-la-môn Dhānañjani sắp chết, Đức Phật không chỉ dừa lại khi nhắc nhở về Tứ Bất Hoại Tín (tâm tin chắc chắn vào Phật, Pháp, Tăng và Giới), mà còn chỉ dạy bốn phương pháp an ủi toàn diện:

Thứ nhất, Tôn giả hãy yên tâm bằng lòng tín tâm chắc chắn vào Đức Phật, tin rằng Ngài là “Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Tức, Thiện Thệ, Tế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trưởng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.

Thứ hai, với lòng tín tâm vào Pháp – “Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hương thượng, được người trí tự mà giác hiểu”.

Thứ ba, tin tâm vào Tăng và những giới luật được các bậc Thánh tuân giữ, không bị phá hoại, không bị đe cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm.

Thứ tư, tin vào Giới của mình được các bậc Thánh kính không bị phá hoại, làm nên thành tựu và sáng sủa.

Bốn phương pháp an ủi này (assāsaniya dhamma) còn được gọi là Tứ Chủng Chắc Chắn Tín (Tứ Bất Hoại Tín), giúp người hấp hối không bị đe dọa, chứng quả Dự Lưu và tiến tới Niết-bàn, hướng vào chính tắc.

Tôn Giả Sāriputta từng dạy rằng những phương pháp an ủi này không nhất thiết chỉ dành cho xuất gia. Ông khuyến khích chia sẻ những giáo pháp này cho cả những cư sĩ có căn cơ thích hợp, vì có nhiều thiện gia nam lão, nếu không được nghe pháp, có thể bị đe dọa; nhưng nếu được nghe, họ có thể biết được Chính pháp.

Độ người hấp hối theo kinh tạng Nikaya - Hình ảnh yểm trợ người lìa đờiĐộ người hấp hối theo kinh tạng Nikaya – Hình ảnh yểm trợ người lìa đời

Tam Pháp Ấn – Nhận Thức Sâu Sắc Về Vô Thường

Bên cạnh Tứ Bất Hoại Tín, Đức Phật còn dạy bộ pháp sâu hơn gọi là Tam Pháp Ấn – sáu minh pháp thiền định. Trong trường hợp cư sĩ Dīghāvu sắp chết, Đức Phật dạy: “Sau khi ông đã an trú trong bốn Dự Lưu pháp này, ông hãy tu tập thêm sáu minh pháp thiền: quán vô thường trong tất cả hình, quán khổ tương trong vô thường, quán vô ngã tương trong khổ, quán tương đoạn tận, quán tương ly tham, quán tương đoạn diệt.”

Sáu minh pháp này là những công cụ tu tập cao siêu, phần lớn chỉ dành cho giới xuất gia hoặc những cư sĩ có căn cơ thông tuệ. Tuy nhiên, khi áp dụng vào trường hợp hấp hối, nhất là khi người đó có tuệ giác nhất định, những pháp này có thể giúp người hấp hối vượt qua sợ hãi về cái chết.

Thực hành Tam Pháp Ấn, người hấp hối sẽ nhận thức được rằng tất cả những gì sanh khởi đều chịu sự đoạn diệt. Không còn tham lam hay chấp thủ về thân xác. Vì khi bỏ chấp thủ, lý sự chuỗi 12 nhân duyên sẽ rõi ra, giúp người hấp hối chạm ngõ giải thoát.

Việc trì tụng kinh Vô Ngã Tương từ trong Nghi Thức Tưởng Niệm của truyền thống Phật giáo Việt Nam cũng được công nhân là phù hợp trong việc trợ niệm cho người hấp hối, với nội dung thiện xảo giúp người hiểu được bản chất vô ngã của sự tồn tại.

Khỏi Chấp Thủ – Con Đường Đơn Giản Nhưng Sâu Sắc

Với thương gia Anāthapiṇḍika – một trong những bậc Dự Lưu nổi tiếng nhất của Phật giáo – Tôn Giả Sāriputta đã giảng một bài pháp dài gọi là “Bài Giáo Giới Cấp Cơ Độc” (Anāthapiṇḍika Sutta). Suốt cả bài kinh, Tôn Giả nhắc nhở Anāthapiṇḍika không chấp thủ vào thâm căn, thâm trần, thâm thứ, cho đến không chấp thủ vào năm uẩn, tứ đại, ba giới này hay giới kia.

Bài pháp này dạy rằng việc không chấp thủ không phải là sự vô cảm, mà là sự giải thoát từ ràng buộc. Khi không còn chấp thủ, tâm mới thực sự tự do. Đúng như Tôn Giả Sāriputta đã nói, bài pháp này không dành cho những cư sĩ mặc áo trắng, mà chỉ dành cho những bậc xuất gia. Tuy nhiên, khi chia sẻ với các cư sĩ, Tôn Giả nhân cơ dạy để những thiện gia nam có thể hiểu rõ Chính pháp.

Sau khi nghe xong bài thuyết pháp, thương gia Anāthapiṇḍika đã tán thán: “Từ xưa đến nay, con đã thân gần với các vị Tỳ-kheo tu tập ý lực, nhưng con chưa bao giờ nghe một bài thuyết pháp như vậy.” Vị thương gia sau đó hoàn thành hành động xuất phát từ lòng tin vào Tam Bảo trong lúc lìa đời.

Những Phương Pháp Trợ Niệm Không Phổ Biến

Khỏi Chấp Thủ (Na Upādiyissāmi)

Với Tôn Giả Channa, người đã tự tay kết thúc cuộc sống vì bệnh quá đau đớn, Đức Phật đã có nhận xét đặc biệt: “Với sự kiện như vậy, Ta không nói Channa có lỗi. Ta nói: ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người đó, Ta nói là có lỗi. Nhưng Tỳ-kheo Channa thời không như vậy.”

Điều này vì trước đó, Channa đã thành tựu tuệ tri “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.” Quan điểm “khỏi chấp thủ” (na upādiyissāmi) này, dù mang tính cao siêu, đã hướng dẫn tâm của Channa vào chính tắc.

Sáu Minh Pháp – Lộ Trình Cao Cấp

Cư sĩ Dīghāvu được Đức Phật trang bị bộ pháp “sáu minh pháp” sau khi ổn định trong Tứ Bất Hoại Tín. Đây là những pháp tu tập cao cấp, tuy nhiên khi Dīghāvu thành tựu, Đức Phật xác nhận rằng vị cư sĩ này đã chứng quả A-la-hán, không còn quay trở lại cõi thế này nữa.

Kết Luận

Theo quan điểm Phật giáo, nghiệp có thể thay đổi. Dù chỉ thay đổi nghiệp lực một chút nhỏ, nhưng theo chiều hướng tích cực, người đệ tử Phật vẫn nỗ lực thực hành. Việc độ người hấp hối, tuy mang tính trợ niệm, cũng nằm trong ý nghĩa của từ này.

Từ những kinh văn Nikaya, chúng ta nhận thấy có năm nội dung cơ bản trong việc trợ niệm cho người hấp hối. Thứ nhất, lắng nghe, an ủi và giải quyết tâm tư của người sắp chết. Thứ hai, trù tuyên những giới luật mà người sắp chết đã thực hành, cũng như cổ vũ những sứt kém về giới luật nếu có, bằng các hình thức sám hối. Thứ ba, định hướng người sắp mất vững niệm tin vào Tam Bảo. Thứ tư, triển khai giáo nghĩa Tam Pháp Ấn hoặc trì tụng kinh Vô Ngã Tương nhiều lần. Thứ năm, bằng những dẫn dụ cụ thể, khuyến người hấp hối tự bỏ luyến ái và chấp thủ.

Đây là những phương cách độ người hấp hối được ghi nhận từ kinh tạng Nikaya, vốn là những lời dạy chân thực và có hiệu quả trong thực hành Phật pháp. Dù bối cảnh xã hội thay đổi, những nguyên tắc cơ bản này vẫn giữ nguyên giá trị và ý nghĩa sâu sắc cho những người chuyên tâm trong việc yểm trợ những người đang trong giai đoạn cuối cùng của cuộc sống.

Related posts

Dukkha – Hình Thái Của Sự Bất An

Administrator

Tăng Ni Trẻ và Mạng Xã Hội: Những Thách Thức Và Giải Pháp

Administrator

Huyền Bí Truyền Thống Hóa Thân Tái Sinh trong Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng

Administrator