Để được làm thị giả cho Đức Phật, cần phải có cơ duyên sâu dày và những phẩm chất đặc biệt. Thị giả không chỉ là người sống gần Đức Phật nhất, mà còn phải là vị đệ tử được tin cậy để theo hầu, có nhiệt tâm tu học và làm gương cho các tu sĩ khác. Chính vì vậy, thị giả được nghe Đức Phật thuyết giảng nhiều kinh pháp nhất. Trong suốt ngày, khi sống gần Đức Phật, thị giả có cơ hội tiếp nhận vô số pháp môn, từ những lời giáo huấn sâu sắc đến những chỉ dạy thực tiễn. Điều này tạo nên cơ duyên tuyệt vời để thị giả có thể nhanh chóng tiến bộ trên con đường tu học và giác ngộ.
Đức Phật đã liệt kê ra năm pháp cần có để tâm giải thoát được thuần thục: (1) cần sống gần bạn thiện hữu tri thức, (2) cần giữ giới, (3) cần nghe kỹ các chuyên luận về ly tham và hướng tâm về giải thoát, (4) cần kiên trì rồi tâm không lười và vun trồng tâm linh, (5) cần quán sát các sanh khởi và biến diệt để hướng tới xa lửa sâu khoẻ. Năm pháp này là nền tảng vững chắc để mọi người tu học, dù là thị giả của Đức Phật hay những người Phật tử hiện đại.
Thị giả Meghiya – Vị thị giả Sớm Nhất của Đức Phật
Vị thị giả nổi tiếng nhất của Đức Phật Thích Ca là ngài Anan. Tuy nhiên, trước đó đã có một vị thị giả khác: ngài Meghiya. Trường hợp ngài thị giả Meghiya được kể lại trong Kinh Ud 4.1 (Meghiya Sutta), bản Việt ngữ trong nhóm Kinh Tiểu Bộ của Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là Kinh Phật Tự Thuyết, Chương Bốn – Phẩm Meghiya. Kinh này cũng là kinh sơ thời, khi ngài Anan chưa là thị giả. Tới cuối kinh này, Đức Phật dạy về pháp Niết Bàn tức khắc, ngay trong hiện tại, giải thoát ngay ở đây và bây giờ.
Có một số điểm đặc biệt trong Kinh Ud 4.1 có thể gọi là hy hữu. Ngài Meghiya ba lần cãi Đức Phật, thế rồi Đức Phật phải chiều ý nhị sư thị giả nhiệt tâm với thiền định này. Kinh viết rằng: “Một thời Thế Tôn trú ở Calikā, tại nơi Calikā lúc bấy giờ Tôn giả Meghiya là người thị giả Thế Tôn.” Lúc này chỉ có riêng Đức Phật và thị giả Meghiya. Không có nhà sư nào khác. Điều này chứng tỏ đây là thời kỳ rất sớm của Đạo Phật, vì chưa có ngài Anan làm thị giả, và không có nhiều nhà sư bên Đức Phật.
Đức Phật dạy pháp Niết Bàn tức khắc qua lời dạy chi tiết
Sự Kiên Trì và Tâm Nhiệt Của Vị Thị Giả
Sáng hôm đó, Đức Phật không đi khất thực. Ngài Meghiya đi khất thực một mình, sau đó, nhị thị giả Meghiya xin Đức Phật cho vào rừng xoài Jantu để khoát thực. Khi khoát thực xong, sau buổi ăn, đi khoát thực trở về, ngài Meghiya đi đến bờ sông Kimikā, tại đó, ngài bộ hành qua lại trên bờ sông Kimikā lúc đó, thấy rừng xoài tươi đẹp, khoả ánh, thấy vậy Tôn giả Meghiya suy nghĩ: “Thật tươi đẹp thay, khoả ánh thay là rừng xoài này. Rừng xoài này thật là vừa đủ để một thiện nam tử tinh cần, hành trì hạnh tinh cần.” Ngài muốn rời Đức Phật để riêng một mình tới rừng xoài ngồi thiền. Tâm thức tới nơi vắng để ngồi thiền, và “dám bỏ Đức Phật một mình” hiển nhiên là tâm thức của các vị sư sơ thời, khi Đức Phật khuyến khích các sư hãy tới nơi rừng vắng để ngồi thiền.
Thị giả Meghiya ba lần cãi lệnh của Đức Phật
Đức Phật Chiều Ý Vị Thị Giả
Đức Phật không đồng ý lúc đầu, báo ngài Meghiya hãy chờ. Kinh viết tiếp: “Rồi Tôn giả Meghiya, vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào làng Jantu để khất thực. Khoát thực ở Jantu xong, sau buổi ăn, khi khoát thực trở về, đi đến bờ sông Kimikā lúc đó, bộ hành qua lại trên bờ sông Kimikā lúc đó, thấy rừng xoài tươi đẹp, khoả ánh.” Ngài Meghiya cãi Đức Phật, xin lần nữa. Tới lần xin thứ ba, ngài Meghiya được Đức Phật cho phép ra đi một mình: “Này Meghiya, khi Thầy nói tinh cần, thời Ta có thể nói gì được! Này Meghiya, nay Thầy hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời!” Thế rồi, ngài Meghiya tới rừng xoài, kinh viết: “Đi sâu vào rừng xoài và ngồi trú ban ngày dưới một gốc cây. Trong khi Tôn giả Meghiya trú trong rừng xoài ấy, phần lớn ba tâm ác, không thiện hiện hành, tức là dục tâm, sân tâm, hại tâm.”
Tức là, khi ngài Meghiya ngồi thiền, thấy tâm khởi lên nhiều niệm: dục (tham dục), sân (bực dọc, giận), hại (nguy hại, bạo lực). Kinh này là kinh sơ thời, có thể gọi là hy hữu và dạy rất nhiều điều. Ngài Meghiya trở về trình bày với Đức Phật chuyện ngồi thiền, thấy khởi lên các tâm số bất thiện như thế. Đức Phật dạy rằng: “Này Meghiya, khi tâm giải thoát chưa được thuần thục, năm pháp đưa đến sự thuần thục.”
Năm pháp để tâm giải thoát được thuần thục theo lời Đức Phật
Năm Pháp Giải Thoát Thuần Thục
Đức Phật không dạy nhập định, thậm chí cũng không bảo ngài Meghiya phải vào sơ thiền. Đức Phật dạy rằng theo thứ tự trước tiên là tâm phải ly tham, rồi phải ly sân, rồi phải tập hơi thở để ly niệm, và tận cùng là quán vô thường. Năm pháp này là: (1) cần sống gần bạn thiện hữu tri thức, (2) cần giữ giới, (3) cần nghe kỹ các chuyên luận về ly tham và hướng tâm về giải thoát, (4) cần kiên trì rồi tâm không lười và vun trồng tâm linh, (5) cần quán sát các sanh khởi và biến diệt để hướng tới xa lửa sâu khoẻ.
Điểm thứ nhất là ứng hợp với ngài Meghiya. Vì là thị giả, sống kế bên Đức Phật, là kế bên vị đề tử được tin cậy để chọn theo hầu Đức Phật, phải có nhiệt tâm tu học là làm gương cho các tu sĩ khác, và do vậy được nghe Đức Phật thuyết giảng nhiều kinh nhất. Cũng là điều cảnh giác cho chúng ta: ngài Meghiya ngồi thiền còn khởi tâm linh tinh, hưởng gì chúng ta bây giờ.
Đức Phật dạy thêm, sau khi an trú trong năm pháp đó, hãy tu thêm bốn pháp, kinh viết: “Lại nữa, này Meghiya, với vị Tỳ-kheo khéo an trú trong năm pháp này, bốn pháp cần phải tu tập thêm: Bất tịnh cần phải tu tập để đoạn tận tham; Từ cần phải tu tập để đoạn tận sân; Niệm hơi thở vô hơi thở ra cần phải tu tập để trừ khổ tâm tư; Và vô thường tưởng cần phải tu tập để nhụi lên kiêu mạn tội lỗi. Này Meghiya, với ai có tưởng vô thường, tưởng vô ngã được an trú. Với ai có tưởng vô ngã, vị ấy đạt được sự nhụi lên kiêu mạn: tội lỗi, Niết-bàn ngay trong hiện tại.”
Quán Vô Thường – Con Đường Tới Niết Bàn Tức Khắc
Nhóm bốn pháp này có thể tóm tắt như sau: (1) quán bất tịnh (thân người dơ bẩn, cơ này dơ bẩn) để không sinh tâm ái dục; (2) quán Từ Bi để không sân với bất kỳ ai hay chúng sinh nào; (3) niệm hơi thở vô vào để ngừng niệm (hay là Vô Niệm); (4) quán vô thường để tâm an trú vô ngã. Những pháp này là cơ sở để đạt được Niết Bàn tức khắc, tức Niết Bàn ở đây và bây giờ.
Khi bạn cảm thụ vô thường, từng khoảnh khắc tới rồi biến mất tức khắc, đó là cơn gió vô thường trôi chảy nơi thân tâm bạn. Khi cảm thụ vô thường, bạn không nắm được cái đã qua, cả ba thời quá-hiện-vị lai đều biến mất trên thân tâm bạn. Từng khoảnh khắc hãy thử nhận vô thường trôi chảy trên thân tâm. Đó là kinh vô tứ, vì chủ nghĩa là cái của quá khứ, mà bạn đã quăng bỏ quá khứ rồi.
Như thế nào để quán vô thường? Có thể cảm thụ vô thường qua các chuyển biến thân tâm như sau. Khi bạn từ ngoài nắng bước vào nhà, sẽ cảm thụ, nhận ra thân tâm chuyển biến. Tương tự, khi bạn từ trong nhà bước ra nắng. Sẽ cảm thụ thân tâm chuyển biến theo từng hơi thở. Khi bạn ngập ngũm nước, sẽ cảm thụ chuyển biến khi nước lạn vào người. Khi bạn ngồi thở, sẽ cảm thụ thân tâm chuyển biến theo từng hơi thở. Từng khoảnh khắc tới rồi biến mất tức khắc, đó là cơn gió vô thường trôi chảy nơi thân tâm bạn. Khi cảm thụ vô thường, bạn không nắm được cái đã qua, cả ba thời quá-hiện-vị lai đều biến mất trên thân tâm bạn. Từng khoảnh khắc hãy thử nhận vô thường trôi chảy trên thân tâm. Đó là kinh vô tứ, vì chủ nghĩa là cái của quá khứ, mà bạn đã quăng bỏ quá khứ rồi. Khi cảm thụ vô thường, bạn đang sống với cái Tâm Không Biết, với Cái Chưa Từng Biết, với cái The Unknown.
Cảm thụ vô thường qua các biến chuyển tự nhiên
Cảm thụ vô thường trên thân tâm hiện tiền như thế, Tổ Sư Thiền còn gọi là “không một pháp trao cho người.” Vì họ nói có pháp nào để an tâm, đều là chủ nghĩa của quá khứ. Cũng gọi là Vô Tâm, vì họ khởi tâm gì cũng là mất liền cái cảm thụ vô thường hiện tiền. Còn gọi là Vô Ngôn, vì họ mở lời cũng là chuyện của quá khứ. Đức Phật nơi đây gọi cảm thụ dòng chảy vô thường là an trú vô ngã, là an trú Niết Bàn ở đây và bây giờ, tiếng Anh còn gọi là Nibbana here and now. Đây chính là giải thoát từng khoảnh khắc, từng hơi thở, khi chúng ta thực sự cảm thụ sâu sắc vô thường qua từng biến chuyển của thân tâm trong cuộc sống hằng ngày.
Ứng Dụng Thực Tiễn Cho Người Tu Học
Tuy kinh này nói riêng cho ngài thị giả Meghiya, nhưng sẽ thích nghi với nhiều người chúng ta. Rằng không nhất thiết phải tu tập thiền định bất động, không nhất thiết phải vào sơ thiền. Rằng niệm hơi thở không cần phức tạp, chỉ cần niệm hơi thở ra vào để tới mức ly niệm (không nên hiểu là xóa sạch niệm, chỉ nên hiểu tưởng đối là khi thở, để tâm phảng lãng như mặt hồ là độ). Và quán vô thường là sẽ thấy vô ngã, là Niết Bàn tức khắc. Đây là lời dạy sâu sắc từ Đức Phật dành cho mọi người tu học, không chỉ riêng cho các vị tu sĩ chuyên sâu, mà còn cho các Phật tử tại gia muốn thực hành trên con đường giải thoát trong cuộc sống hằng ngày.
Pháp Niết Bàn tức khắc không phải là điều cao xa mà mỗi chúng ta đều có cơ hội tiếp cận. Thông qua việc quán sát vô thường, chúng ta có thể cảm nhận được bản chất thực của hiện tại, vượt qua sự bám víu vào quá khứ hay lo lắng cho tương lai. Khi thân tâm được giải thoát khỏi các phiền não, từng khoảnh khắc sống với sự cảnh tỉnh và tự do, đó chính là Niết Bàn được Đức Phật dạy.
THAM KHẢO KINH ĐIỂN:
- Kinh Ud 4.1 (Meghiya Sutta) – Kinh Phật Tự Thuyết, Phẩm Meghiya
- Bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu
- Bản dịch tiếng Anh của các tác giả: Anandajoti, Ireland, Thanissaro