Đức Phật Dược Sư (nguyên ngữ Sanskrit gọi là Bhaiṣajya-guru-vaiḍūrya-prabha-rāja, hay ngắn gọn hơn: Bhaiṣajyaguru) được tin là một vị Phật ở phương đông. Tên của Ngài nghĩa là “vị thầy có năng lực chữa lành vết thương và chứng nghiệm thể tính sáng trong như ngọc lưu ly”, Hán dịch là “Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai”. Vị Phật này đại diện cho sự chữa lành toàn diện – từ bệnh tật thể xác đến những bệnh tật tinh thần của con người.
Bản tiếng Sanskrit của Kinh Dược Sư đã được phát hiện tại vùng Tây Bắc Ấn Độ, một nước cổ đại là Gandhāra có niên đại từ thế kỷ VII, chứng tỏ niềm tin vào Đức Phật Dược Sư đã thành hình ở Ấn Độ trong thời kỳ thịnh trị của Phật giáo. Sự xuất hiện sớm của kinh điển này cho thấy tầm quan trọng của Phật pháp Dược Sư trong nền tảng tư tưởng Phật giáo nguyên thủy.
Trong Kinh Dược Sư (bản Việt dịch của Hòa thượng Thích Huyền Dung, dịch từ bản Hán Dược Sư Như Lai Bản Nguyên Công Đức Kinh), Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã giới thiệu về Đức Phật Dược Sư như sau: ở phương đông, cách đây hơn mười căn dừa, có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Đức giáo chủ cõi ấy hiểu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, ứng Chân Chánh Đảng Giác, Minh Hành Viên Mãn, Thiền Thế, Thế Gian Giải, Vô Thương Sĩ, Điều Ngự Trưởng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Bát Gì Phạm.
Đức Phật Dược Sư thường được miêu tả ở tư thế ngồi kiết già, tay trái cầm một bình lưu ly, tay phải đặt trên đầu gối phải. Hoặc có khi tay Ngài giữ curong quả Aruna hoặc Myrobalan giữa ngón tay cái và ngón trỏ. Ảnh sáng chiếu soi của Ngài giống như ánh sáng của ngọc lưu ly – trong suốt, sáng chói và thanh tịnh. Theo truyền thống Trung Quốc, Ngài còn có một ngôi tháp tượng trưng cho mười ngàn vị Phật của ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai.
Hình Ảnh Và Ý Nghĩa Biểu Tượng
Đức Phật Dược Sư với bình lưu ly và tay phải đặt trên đầu gối trong tư thế định tĩnh
Bình lưu ly mà Đức Phật Dược Sư cầm đại diện cho “thuốc vô thượng” – không phải là thuốc vật chất thông thường mà là giáo lý Phật để chữa lành mọi bệnh tật tinh thần. Màu xanh lục của ngọc lưu ly tượng trưng cho sự trong sáng, thanh tịnh và quán chiếu. Tay phải của Ngài đặt trên đầu gối trong tư thế thiền định biểu thị sự an tĩnh, bình thản và khả năng chữa lành từ trong tâm.
Trong kho tàng Hán tạng, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh có đến 4 bản dịch: (1) Phật thuyết Dược Sư Như Lai Bản Nguyên Kinh, Đời Tuần, ngài Dharmagupta (Đạt-ma Cấp-Đa) dịch năm 615; (2) Phật thuyết Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bản Nguyên Công Đức Kinh, Đời Đường, Huyền Trang dịch năm 650; (3) Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bản Nguyên Công Đức Kinh, 2 quyển, Đời Đường, Nghĩa Tịnh dịch vào năm 707; (4) Phật thuyết Quán Địa Tạng Bát Trước Quá Tội Sanh Tử Đắc Độ Kinh quyển Đề Thập Nhị, Đời Đông Tấn, Thiên Trúc Tam Tạng Bạch-thị-lê-mật-Đa-la dịch. Sự tồn tại của nhiều bản dịch khác nhau cho thấy tầm quan trọng của Kinh Dược Sư trong truyền thống Phật giáo Hoa – Việt.
Mười Hai Đại Nguyện Của Đức Phật Dược Sư
Đức Phật Dược Sư đã phát thệ mười hai đại nguyện sau:
Nguyện thứ nhất: Ta nguyện đời sau, khi chứng đạo Bồ Đề, thân Ta có hào quang sáng chói, chiếu khắp vô số thế giới, khiến cho chúng hữu tình đều có đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi tướng phụ như thân của Ta vậy.
Nguyện thứ hai: Ta nguyện đời sau, khi đắng đạo Bồ Đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, khôi cái nhơ bợn, ánh quang minh chói lối khắp nơi, công đức cao vồi vợi và an trú giữa từng lớp dệt băng tia sáng, tự hơn vàng nhất nguyệt.
Nguyện thứ ba: Ta nguyện đời sau, khi đắng đạo Bồ Đề, dùng trí huệ và phương tiện vô lượng vô biên, độ cho chúng hữu tình, khiến mỗi người có đủ các vật dụng, khôi ai phải chịu sự thiếu thốn.
Nguyện thứ tư: Ta nguyện đời sau, khi đắng đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo, ta khiến họ quay về an trú trong đạo Bồ Đề. Hoặc có những người tu theo hạ hành Thinh văn, Độc giác, dùng giáo lý Đại thừa, Ta giảng dạy cho họ.
Nguyện thứ năm: Ta nguyện đời sau, khi đắng đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình tu hành thanh tịnh, theo giáo pháp của Ta, Ta sẽ giúp họ giữ được giới pháp hoàn toàn đầy đủ. Nếu có người bị tội hậy phạm giới pháp, nghe được danh hiệu Ta, người đó sẽ được thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác.
Nguyện thứ sáu: Ta nguyện đời sau, khi chứng đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ, các căn khôn đủ, xấu xa, khó khăn, tai điếc, mắt đui, nói nặng ngợ liệu, tay chân tật nguyên, lác hụi, điên cuồng, chịu những bị bệnh khổ này, nếu nghe danh hiệu Ta, liền được thân hình đoan chính, tâm tính khôn ngoan, các căn đầy đủ, không có những bệnh khổ này nữa.
Nguyện thứ bảy: Ta nguyện đời sau, khi chứng đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng bệnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai đề nương nhỏ, không gặp tháy, không gặp thuốc, không bác con, không nhà của, chịu nhiều nơi nghèo hèn khốn khổ, nếu nghe danh hiệu ta một lần, tất cả bệnh hoạn khổ nào đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả Vô thương Bồ Đề.
Nguyện thứ tám: Ta nguyện đời sau, khi chứng đạo Bồ Đề, nếu có phụ nữ nào bị trầm điều hèn hạ khổ sở, buồn rầu, bức tức, sanh tâm nhàm chán, muốn bỏ thân ấy, nếu nghe danh hiệu Ta, được chuyển thân gái thành thân trai, có đủ hình tượng trưởng phu, cho đến chứng đạo quả Vô thương Bồ Đề.
Những người niệm Phật Dược Sư với tinh tâm được hưởng phước lành từ nguyện lực của Ngài
Nguyện thứ chín: Ta nguyện đời sau, khi chứng đạo Bồ Đề, dẫn dắt chúng hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự rằng buộc của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến, ta dẫn họ về với chân kiến, và dần dần dạy họ tu tập theo các hành Bồ tát đắng mau chứng đạo Bồ Đề.
Nguyện thứ mười: Ta nguyện đời sau, khi chứng đạo Bồ Đề, nếu có hữu tình nào bị nhà vua xiềng xích, đánh đập, hoặc bị lao tù, hoặc bị chìm giết, hoặc bị nhiều tai nạn nhục nhã, thân tâm chịu những nơi khổ, buồn rầu, bức rứt, nếu nghe danh hiệu ta, nhờ sức oai thần phước đức của Ta, đều được giải thoát tất cả những nơi ưu khổ này.
Nguyện thứ mười một: Ta nguyện đời sau, khi chứng đạo Bồ Đề, nếu có hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành, vì tìm miếng ăn phải tạo các nghiệp dữ, nếu nghe danh hiệu Ta, chuyên niệm thỉ trì, trước hết Ta dùng các món ăn ngon ban bố cho họ được no đủ và sau Ta đem giáo pháp nhiễm màu kiến lập cho họ cảnh giới an lạc hoàn toàn.
Nguyện thứ mười hai: Ta nguyện đời sau khi chứng Bồ Đề, nếu có hữu tình nào nghèo đến nơi không có áo che thân, bị mũi mòng cắn đốt, nóng lạnh dã dầu, ngày đêm khổ búc, nếu nghe và trì niệm danh hiệu Ta, Ta sẽ giúp cho người đó được nhưng ý muốn: các thứ y phục tốt đẹp, báo vật trang nghiêm, trường hoa, phần sáp thơm ngát, trống nhạc ca mura, muốn thưởng thức thứ nào cũng được thỏa mãn cả.
Ý Nghĩa Việc Niệm Danh Hiệu Đức Phật Dược Sư
Mười hai đại nguyện của Đức Phật Dược Sư có thể phân thành 3 loại lớn. Thứ nhất, các nguyện liên quan đến nguyện vọng được khỏe mạnh, thân tương trang nghiêm; tất cả chúng sanh đều có tương hảo, thân thể thanh tịnh, đoan chính không có bệnh khổ. Thứ hai, các nguyện liên quan đến việc thỏa mãn ước vọng, như được diều y (quần áo đẹp tốt), các thứ trang sức trang nghiêm. Thứ ba, các nguyện liên quan đến nguyện vọng đạt được sự giải thoát tinh thần, như đắc Vô thương Bồ Đề, không đọa ác thú (không rơi vào nạo ác), tu Đại thừa, cụ đại trí huệ (đủ đại trí tuệ).
Tóm hợp lại mà nói, mười hai nguyện này cơ bản hàm chứa tất cả sự theo đuổi mỗi dục vọng từ sắc thực đến tinh thần của con người, tức ước vọng về vật chất và tinh thần; có thể nói mỗi nhu cầu đều được thỏa mãn. Song thỏa mãn không phải để đắm chìm trong thế giới vật chất mà để tu tập giải thoát, giác ngộ. Đây chính là đặc điểm nổi bật của phương pháp Phật Dược Sư – không phủ nhận nhu cầu hợp lý của con người mà hướng dẫn họ tiến tới giải thoát.
Chúng ta tụng kinh, hàng ngày huấn tập tư tưởng quảng đại từ bi, ước mong thế thể nhập vào biển đại nguyện của Đức Phật Dược Sư. Tập sống như Ngài, mỗi niệm mỗi niệm mong đem hạ hạnh phúc an vui cho quanh mình, chắng còn có sợ những khổ ác thú. Nguyện từ nay gánh vác hết tháy hữu tình, làm việc nghĩa lợi nhiều ích an vui.
Kinh Lăng Nghiêm nói rằng: “Mười phương Như Lai thường nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con trốn chạy thì mẹ dù nhớ có làm gì được. Nếu con nhớ mẹ nhưng mẹ nhớ con, mẹ con đời đời chắng rời xa nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật niệm Phật, đời này đời sau quyết định thấy Phật”.
Phương Pháp Tu Tập Niệm Danh Hiệu Đức Phật Dược Sư
Viện niệm Phật nói chung, niệm danh hiệu Đức Phật Dược Sư nói riêng, không chỉ có ở trong truyền thống Đại thừa mà đã hiện diện trong kinh tạng Nam truyền. Trong Kinh Tăng Chi, chương Một pháp, phẩm Một pháp có nói: “Có một pháp, này các Tỳ kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tĩnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Một pháp ấy là gì? Chính là niệm Phật”.
Một bản kinh khác, Kinh Trì Trai (số 202, Trung A Hàm, tương đương Kinh Visākhā-sutta, Tăng Chi Bộ), cũng đề cập đến pháp môn niệm Phật, là một trong năm pháp tu tập hỗ trợ với Thánh trai tám chi (Bát quan trai giới). Kinh này cho thấy nhờ niệm Phật mà tâm được tịnh và tất cả mỗi tâm lý bất thiện đều được tiêu diệt, được nói cho cơ sở Tỳ Kheo Khưu, khi Phật đang trú tại nước Xá Vệ, trong Đông viện, Lục tử Mâu giảng đường.
Pháp niệm Phật là một pháp rất đơn giản nhưng mở ra vô số diều dạy, do vì lẽ đó nên pháp hành này có những yêu cầu rất cao. Một trong những yêu cầu cơ bản và quan trọng của pháp này là việc niệm Phật thường được tu tập (bhāvito), được làm cho sung mãn (bahulīkato). Sự an tĩnh (upasamāya) của thân tâm sở dụ nhiều có được là do hành trì pháp này đến mức chuyên nhất. Theo Vô tử pháp, thì thuật ngữ bahulīkata còn mang nghĩa là Định. Do vậy, khi niệm Phật đến mức sung mãn, chuyên nhất cũng chính là đắt tới Định.
Như vậy, việc niệm Phật chuyên nhất mở ra vô số diều dạy, từ chữa lành bệnh tật, đầy đủ thức ăn… cho đến giác ngộ, Niết bàn. Số dụ hành giả trì niệm danh hiệu của Đức Phật Dược Sư, nhưng chưa thực sự tu tập (bhāvito), chưa được sung mãn (bahulīkato), thế nên vẫn chưa nhận được kết quả như mong muốn. Cơ Đức có dạy: “Bình thường tâm thì đạo”. Tâm bình thường có thể vị như lưu ly. Tâm bất thường thì chạy theo vọng tưởng. Tâm bình thường thì trong không chấp ngã hay chấp pháp. Ngoài không bị kiến hoặc đánh lửa. Trong danh hiệu của Đức Phật Dược Sư, Quang nghĩa là sáng suốt, là ánh sáng trí tuệ thuộc tinh thần không có hình tương.
Trong khi niệm danh hiệu Ngài, hình giả nghe âm thanh rõ ràng không mờ, từng tiếng minh bạch là tính giác sáng tơ. Nếu nghe không rõ, thì hoặc bị hôn trầm, hoặc đã vương vào một trạng cảnh nào khác. Tính nghe chính là tính giác ở khắp pháp giới. Nghe rõ tiếng niệm tức là ngay lúc ấy, ta đã trở về tính thể. Tính này động với chữ Phật và dễ nhiên động với Đức Dược Sư Lưu Ly Quang. Niệm danh hiệu Ngài để tự nhắc tâm mình, tâm Phật vẫn thường trú ở khắp mười phương không rời nhau.
Kết Luận
Các đại nguyện của Phật Dược Sư rất lớn, ý nghĩa vô cùng thâm sâu. Niệm danh hiệu của Ngài không chỉ để tưởng nhớ công đức của Ngài, mà còn là để trang nghiêm thân tâm bằng pháp môn niệm Phật, thắng hướng Niết bàn. Trong bản dịch Kinh Dược Sư của ngài Nghĩa Tịnh còn lưu lại một bài thần chú Dược Sư như sau:
Nam mô bạc giá phát đế, bỉ sát xã, lủ lá bệ lưu ly, bát lạt bả, hát ra xã dã, đắt tha yết đa dã, a ra hát đế, tam miệu tam bột đã dã, đắt điệt tha. Ân, bỉ sát thệ, bỉ sát thệ, bỉ sát xã, tam một yết đế, sa ha.
Bài chú Dược Sư khi dịch nghĩa ta có thể hiểu: Kính lấy Thế Tôn, là Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, Ứng Cung, Chân Biến Tri, với lời thật ngữ: Mỗi bệnh tất sẽ được chữa lành nếu thực hành phương thuốc của Ta. Thật vậy, sự thực hành phương thuốc niệm danh hiệu của Ngài một cách tinh tấn, có thể giải trừ được bệnh tham, sân, si của bản thân, là sự chữa lành tốt đẹp nhất mà hành giả nhận được khi trì Kinh Dược Sư.