Image default
Luận Giải & Nghiên Cứu Phật Học

Khái Niệm Phật Đất: Từ Lịch Sử Đến Thực Hành Hiện Đại

Ngược dòng lịch sử Phật giáo ấn Độ, có lần được Phật được hai anh em xuất thân trong dòng Bà-la-môn tên là Yameru và Tekula vì ngưỡng mộ giáo lý của Phật họ đã xuất gia làm Tỳ kheo. Họ cho rằng truyền bá giáo lý vi diệu thù thắng của Phật bằng ngôn ngữ địa phương (Magadhi) có thể là hoen ở sự cao quý của Phật giáo nên họ đã thỉnh cầu được Phật tuyên giảng bằng ngôn ngữ tao nhã giống với tiếng Phạm Vệ-Đà.

Nhưng với tâm nguyện tự bi, Ngài muốn giáo lý của Ngài truyền bá khắp mọi tầng lớp trong xã hội nên Ngài đã không động ý. Ngài muốn đệ tử của mình ở vùng nào sẽ được tiếp cận giáo lý với ngôn ngữ địa phương vùng đó. Khi Phật nhập diệt những nghi thức truyền tống miệng bị sai khác, mai mốt nên giáo lý của Ngài đã được đệ tử đối sau ghi chép với nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau, sự kết tập ở mỗi thời điểm, không gian khác nhau nên có những tư duy khác nhau sao cho phù hợp từng hoàn cảnh. Có thể nói, chính vì không có một văn bản cơ bản định nào nên Phật giáo mới có cơ hội phát triển rực rỡ đa dạng muôn màu như ngày nay. Sự đa dạng đó thể hiện rõ nhất qua những khái niệm, mặc dù có sự kế thừa và phát triển nhưng chung nhất vẫn không nằm ngoài mục đích dẫn dắt chúng sinh trên con đường chuyển hóa tâm linh và dẫn thế nhập với trí tuệ của bậc giác ngộ.

Một ngôi chùa được bao quanh bởi cảnh vật thiên nhiên tuyền đẹp với kiến trúc Phật giáo độc đáoMột ngôi chùa được bao quanh bởi cảnh vật thiên nhiên tuyền đẹp với kiến trúc Phật giáo độc đáo

Khái Niệm Phật Đất Cơ Bản

Trong kinh điển, những khái niệm căn bản do ảnh hưởng nhiều yếu tố như thời gian, không gian, văn hóa được phát triển và mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Trong số đó có khái niệm cõi Phật (Phật Đất) phát sinh từ một nhu cầu tâm linh sâu sắc.

Khái niệm Phật Đất ban đầu từ khái niệm cơ xưa nhất là Kshetra chỉ cho nơi linh thiêng của tu viện và ở đó có thể đạt được sự giải thoát sau này. Trong Phật giáo Đại thừa, khái niệm Phật Đất được sử dụng rất phổ biến với ý nghĩa là cõi mà bậc Giác ngộ chứng đạt, có nhiều tên khác nhau được sử dụng để chỉ cõi áy. Theo Đại thừa nghĩa chương của Tuệ Viên biên soạn và vào đời nhà Tùy, Phật Đất có thể gọi là Phật sát (Sát = thế giới, cõi nước, âm tiếng Phạn là Kshetra), Phật giới, Phật quốc, Phật Đất, hoặc có khi gọi là Tịnh giới, Tịnh quốc, Tịnh Đất. Các cách gọi tuy khác nhau nhưng đều có ý nghĩa chỉ cho cảnh giới thanh tịnh không nhiễm ô. Đó là cảnh giới thanh tịnh của Phật và Bồ tát. Đặc biệt trong Đại thừa, các cõi này do các vị Bồ tát khi còn đang hành đạo vì thương xót chúng sinh nên phát nguyện tu tập các công đức để trang nghiêm cõi nước của mình nhằm thâu nhiếp chúng sinh vào cõi áy giúp họ tu tập và đạt được sự giác ngộ. Kinh điển Đại thừa các cõi nước như Tây phương Cực lạc hay Đông phương Diệc hữu đều được các vị Phật phát nguyện trang nghiêm khi các Ngài còn đang hành Bồ tát đạo.

Những Lần Đề Cập Trong Kinh Điển Nguyên Thuỷ

Thời Độc Phật, các cõi thanh tịnh của chư Phật, Bồ tát cũng đã từng được nhắc đến như cung trời Đâu Suất nơi Bồ tát Hộ Minh trước khi giảng thể đã cự trụ, hay Bồ tát Di Lặc trong Đâu suất Nội viện là vị Bồ tát sẽ thành Phật trong tương lai. Tuy nhiên, thời kỳ đó Độc Phật chỉ giới thiệu qua, sau này mới được phát triển và khai thác mạnh mẽ nhất là thời kỳ Phật giáo Đại thừa với nhiều lý do như: những diễn biến phức tạp về chính trị như sự phân hoá giai cấp, chiến tranh… khiến con người luôn mơ ước về một cõi an lành hạnh phúc. Việc phát triển tư tưởng Tịnh Đất cõi Phật là điều hiển nhiên và cần thiết, nhưng trong Đạo Phật để có thể về được cõi áy không chỉ đơn thuần là cầu nguyện mà cần có những điều kiện nhất định và một trong những điều kiện quan trọng nhất là cần có sự nỗ lực tu tập hoàn thiện tâm thức, bởi theo chủ trương Phật giáo “tâm tịnh thì quốc độ tịnh” và Tịnh Đất có thể đạt được trong đời sống hiện tại.

Một bộ tượng Phật được đặt trên bàn thờ thanh tịnh trong chùa chiềnMột bộ tượng Phật được đặt trên bàn thờ thanh tịnh trong chùa chiền

Phát Triển Khái Niệm Phật Đất Từ Kinh Văn Pali

Xét về khía cạnh kinh điển sự phát triển khái niệm Phật Đất khá phức tạp trong kinh điển Pali thời kỳ sau trong Pháp Cú Kinh đã có những ý tưởng về cảnh giới và quốc độ các tử được sử dụng như “gocara” (giới), Khetta (bộ cõi, xứ) điển hình như:

“Vị chiến thắng không bại
Vị bước đi trên đời
Không dấu tích chiến thắng
Phật giới rộng mênh mông”
(Pc. 179)

“Ai giải tỏa lường tham,
Ấy phước hết dắt dẫn,
Phật giới rộng mênh mông,
Ai dùng chân theo dõi,
Bậc không để dấu tích?”
(Pc. 180)

Qua hai kệ tụng chúng ta có thể thấy người nào đạt được sự giải thoát, đồng nghĩa với an trú trong cõi Phật. Lời của Độc Phật Thích Ca trong Chính Tạng Pali đã khẳng định sự tồn tại những quốc độ của chư Phật là vô số. Những quốc độ này tồn tại khắp mười phương vũ trụ.

Phật Đất Trong Truyền Thống Nguyên Thủy

Qua việc khảo sát tam tạng Pali, nhiều học giả phương Tây đã phát hiện ra những văn bản trong tạng độ cấp đến những quốc độ của chư Phật. Thế giới tôn nghiêm này được ghi nhận rất chi tiết trong chương Buddhāpadāna của Kinh Apadāna thuộc Khuddaka Nikāya (Tiểu Bộ) của tạng Pali. Giáo sư K.R. Norman, một học giả hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu văn học Pali, đã nhận xét về Buddhāpadāna rằng: “Trong đoạn này Độc Phật đã kể về những quốc độ của chư Phật (Buddhakkhettas), đó là những miền đất lý tưởng của sự mỹ lệ, là nơi các Độc Phật cư ngụ. Một bức tranh phác họa hình ảnh các Độc Phật chặt vẫn với nhau, cũng để cấp đến các đệ tử chặt vẫn các chư Phật và ngược lại” (K.R. Norman, 1983, tr.90).

Số lượng quốc độ của chư Phật đã được Độc Phật Thích Ca thuật lại trong Buddhāpadāna thuộc Tiểu Bộ của Chính Tạng Pali như sau: “Disā dasavidhā loke, yāyato natthi antakaṃ. Tasminca disābhāgamhi, buddhakhettāasaṅkhiyā”. Bhikkhu Indacanda đã dịch tiếng Việt là: “Mười phương ở thế giới vũ trụ đối với người đang du hành là vô tận (không có điểm tận cùng). Và ở mỗi phương (thế giới) áy, các đại diện của chư Phật là (vô số) không thể đếm được”.

Như vậy, lời của Độc Phật Thích Ca trong Chính Tạng Pali đã khẳng định sự tồn tại những quốc độ của chư Phật là vô số. Những quốc độ này tồn tại khắp mười phương vũ trụ. Trong Kinh Trung A-hàm, kinh số 32, Vị Tăng Hữu tương đương với Kinh 123, Kinh Hy Hữu Vị Tăng Hữu Pháp, là kinh năm tăng Đại chúng bộ để phát triển khái niệm Phật và Phật quốc. Triết học Đại chúng bộ phát triển khái niệm một Độc Phật siêu việt, với những khả năng siêu phàm. Triết học Đại chúng bộ là nền tảng của khái niệm Phật Đất. Cụ thể bản Pali diễn tả 20 điều kì diệu xảy ra khi Bồ tát giảng trần từ cõi Đâu Suất, nơi dung cơ các Độc Phật cư ngụ, nội dung kinh mô tả chi tiết cuộc đời Độc Phật từ khi tu hành phạm hạnh, sinh vào cung trời Đâu Suất đến khi nhập thai chúng ta thấy Đại chúng bộ có tư tưởng hoá Độc Phật là đấng toàn tri có khả năng tuyệt đối, thấy biết và làm được tất cả.

Một hàng ngũ tượng Bồ tát được kì công chạm khắc với biểu cảm trang nghiêmMột hàng ngũ tượng Bồ tát được kì công chạm khắc với biểu cảm trang nghiêm

Ngài Buddhaghosa (Phật Âm) là vị tu sĩ Theravada đầu tiên hình thành tư tưởng Phật Đất (con đường thanh tịnh, 179). Dựa trên khả năng hiểu biết vô lượng của Độc Phật về vô lượng thế giới (thế gian giải). Độc Phật đã trải nghiệm, biết và thâm nhập với trí tuệ vô lượng của chư Phật.

Phật Đất Trong Truyền Thống Đại Thừa

Trong Tháp Trụ Tủy-bà-sa luận (Đ.26, no. 1521) của ngài Long Thọ, cõi tịnh được định nghĩa là nơi không còn sự ô nhiễm và sự ô nhiễm do nghiệp bất thiện của chúng sinh tạo ra. Sự nhiễm ô này có thể loại trừ, chuyển hoá khi hành giả nhận rõ được tính không của các pháp. Chúng ta bị nghiệp chi phối vì chấp vào có, không của các pháp, tạo nghiệp bất thiện đưa đây chúng ta đến cảnh giới bất tịnh. Cho nên muốn hình thành cõi Phật thanh tịnh cần diệt trừ các ác pháp.

Độc Phật dạy có nhiều pháp môn có pháp dễ hành và pháp khó hành như ở thế gian có con đường dễ đi tốn ít thời gian đọ vật vã như đi tàu thuỷ nhưng cũng có con đường khó đi và mất nhiều thời gian như đi bộ. Cũng vậy, con đường của chư Bồ tát có dễ và khó. Các Ngài có thể đi theo con đường tự lực với nhiều tinh tấn cần khó, hoặc theo con đường tha lực để dễ dàng chứng nhập địa vị bất thoái. Tuy vậy dù là tha lực nhưng cũng phải có tự lực của bản thân mỗi chúng sinh, ví như người muốn đi tàu phải có tiền mua lộ phí, mà lộ phí áy do tự thân mỗi chúng sinh tích luỹ bằng các công đức tạo được nương vào tha lực của Phật thì mới thành tựu.

Long Thọ Bồ tát phát triển Tịnh Đất Đại thừa dựa trên quan điểm tính không tức là vạn pháp do nhân duyên giả hợp không có ngã cơ bản. Tịnh Đất cũng thế vì nhân duyên độ hết thảy chúng sinh mà kiến lập, khi chúng sinh đã chứng ngộ thì cũng là lúc thể nhập với tính không. Như vậy, có thể thấy, trên nền tảng lý duyên sinh Đại thừa Phật giáo luôn sử dụng mọi phương tiện để đáp ứng mọi nhu cầu của sở đông quần chúng. Đại thừa mở ra cho tất cả trình độ cao, thấp. Với khuynh hướng này, Phật giáo Đại thừa dễ dàng tiếp cận mọi tầng lớp trong xã hội. Chính sự linh hoạt đó khiến Phật giáo được phổ cấp, tồn tại và phát triển mạnh mẽ.

Phật Đất Trong Các Kinh Điển Chính

Một số kinh điển xuất hiện trong thời sơ kỳ Đại thừa có để cấp đến các cõi Phật. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa diễn tả các cõi Phật: “Lúc bấy giờ, Độc Phật phóng một luồng ánh sáng trắng giữa hai chân mày, chiếu sáng tám vạn thế giới ở phương Đông, đến tận địa ngục A-tỳ, cao đến tân trời Ca-ni-trá… như vậy trong Diệu Pháp Liên Hoa đã khẳng định không chỉ có thế giới Ta bà mà còn rất nhiều thế giới khác trong vũ trụ.

Trong Kinh Hoa Nghiêm: “Tâm như họa sĩ khéo, vẽ tất cả thế gian, ngũ uẩn cũng từ đó sinh, không pháp nào không tạo” đoạn kinh khẳng định hết thảy các pháp đều do tâm tạo ra, có nghĩa là cõi Phật cũng từ tâm thanh tịnh bình đẳng chính giác của chư Phật mà tạo ra… Kinh Duy Ma: “Nếu Bồ tát muốn được Tịnh Độ khi Tịnh Độ khi Tịnh Độ khi Tịnh Độ” đoạn kinh khi Tịnh Độ khi Tịnh Độ”.

Bồ tát muốn được Tịnh Độ nên thanh tịnh tâm mình, tuỳ tâm thanh tịnh áy mà cõi Phật thanh tịnh. Nếu hai kinh trên mới chỉ khẳng định có vô vàn thế giới khác nhau trên vũ trụ này và thế giới áy là do tâm mà tạo thành thì Kinh Duy Ma khẳng định rõ ràng Bồ tát muốn thanh tịnh cõi nước của mình thì phải thanh tịnh tâm và chỉ có cách đó mới có thể thành tựu cõi Phật thanh tịnh của mình, cũng chính là thành Phật.

Chuỗi Phát Triển Lịch Sử Của Khái Niệm

Thực ra bản về thế giới quan, vũ trụ quan không chỉ Đại thừa mới xuất hiện mà trong kinh Nguyên thuỷ cũng đã để cấp đến. Dù Độc Phật khẳng định những vấn đề đó không đưa đến sự giải thoát, Kinh Trường Bộ số 27 Kinh Khởi Thế Nhân Bốn, Phật nói đến các chất hình thành vũ trụ, hay Kinh Tăng Chi chương 8 pháp Độc Phật nói về các nhân tố hình thành lên Đại Địa. Có thể nói, rải rác trong các kinh có bàn về vũ trụ nhưng chưa hệ thống, sau này các bản sư giải (Abhidharma) đã đi sâu và phân tích chi tiết hơn, lúc này chủ trương về vũ trụ nhân sinh mới được hệ thống hoá. Điều này đã góp phần làm cho tư tưởng Tịnh Đất thêm rõ ràng và phát triển mạnh mẽ sau này.

Sự hình thành khái niệm cõi Phật được manh nha ngay từ thời Phật còn tại thế, nhưng không được nhận mạnh mà chỉ để cấp đến qua tên gọi, thể hiện qua hệ thống kinh Nguyên thuỷ. Sau khi Phật nhập diệt, với sự nhớ tưởng và cần một điểm tựa về tinh thần trước những khổ đau, hàng đệ tử tin rằng Phật luôn hiện hữu và chưa khi nào rời bỏ chúng sinh. Bên cạnh, việc đáp ứng nhu cầu mong ước về một cõi lý tưởng đã thúc đẩy hình thành nên khái niệm rõ ràng và cụ thể hơn về cõi Phật điều đó được thể hiện rõ nhất qua hệ thống kinh điển Đại thừa và các bộ Abhidharma. Cho đến nay, từ một khái niệm đã trở thành một phái Tịnh Độ tổng phát triển mạnh mẽ ở một vài quốc gia, cho thấy sự uyển chuyển của Phật giáo trước những nhu cầu xã hội.

Dù dưới hình thức nào thì sự phát triển đó luôn xây dựng trên nền tảng chân lý Phật đã chỉ bày. Trên con đường tu tập, dù theo cách nào, chúng ta cũng không nên quên mục đích cơ bản là tu tập tâm mình. Bằng cách thanh tịnh tâm, rèn luyện tâm không những chúng ta có thể đạt được sự an lạc trong đời này, mà còn có thể tiếp cận được những cõi Phật thanh tịnh hoặc nói cách khác, chúng ta tạo dựng được một cõi Phật thanh tịnh ngay trong tâm mình, thực hiện được lý tưởng “tâm tịnh thì quốc độ tịnh” mà Phật giáo luôn khuyến khích.


Tỳ kheo Thích Nhuận Giác

Related posts

Bồ Tát Địa Tạng Dạy Về Công Đức Cùng Chay Cho Gia Tiên

Administrator

Sự Kiện Trường Giả Cấp Cô Độc Đến Yết Kiến Phật Diễn Ra Như Thế Nào?

Administrator

Vì Sao Đức Phật Chỉ Năm Giới Cho Phật Tử Tại Gia?

Administrator