Trong hành trình tìm tòi chân lý, nhân loại đã phát sinh vô số quan điểm về bản ngã, thế giới và sự tồn tại sau khi chết. Từ thế cổ đại, các triết gia, tu sĩ ngoài đạo đã tranh luận không ngừng về những vấn đề siêu hình này. Tuy nhiên, đặc biệt trong thời đại của Đức Phật, những tranh cãi này đã được tệng trình chi tiết trong một bộ kinh quan trọng—Kinh Phạm Vàng. Bộ kinh này không chỉ là một tài liệu lịch sử về các tư tưởng Ấn Độ cổ đại, mà còn là một lần chứng thực rõ ràng về sự vượt trội của giáo lý Phật đạo so với những quan điểm ngoài đạo.
Kinh Phạm Vàng thuộc Trường Bộ Kinh, được kết tập sớm nhất, trình bày tổng quát các học thuyết của những phái, những du sĩ ngoài đạo đương thời Phật. Bằng tuệ tri của bậc Chánh giác, Đức Tây Tôn đã phản bác, chỉ rõ những sai lầm và nguy hại của những tư kiến này. Ngài đã dạy con đường trung đạo để nhân loại đi theo và đạt được cứu cánh giải thoát. Về vấn đề “trước nhất”, Kinh Phạm Vàng với nội dung cốt yếu giới thiệu về quan điểm của các phái ngoài đạo, chính là bộ kinh đầu tiên trong Trường Bộ. Điều này như một sắp xếp đầy thâm ý của các bậc Trường lão thời kỳ Phật giáo bộ phái khi kết tập kinh điển—trước hết muốn giới thiệu bức tranh tổng quan về tính hình tôn giáo, quan điểm triết thuyết, tín ngưỡng đa thần, đa giáo phái trong thời Phật tại đó. Qua đó, người muốn tìm hiểu đến giáo lý Đức Phật nắm bắt được đâu là minh triết Phật giáo, đâu là tinh thần mang thiên hướng ngoài đạo, từ đó tự tưởng về các chủ nghĩa, truyền thống các giáo phái thời Phật, làm nền tảng để xây dựng niềm chính tín với giáo lý Phật đạo.
Sáu Mươi Hai Luận Chấp Về Ngoài Đạo
Từ những ngày đầu học Phật, tìm hiểu về lịch sử Đức Phật và bối cảnh Phật giáo Ấn Độ cổ đại, chúng ta ắt gặp được sâu phái ngoài đạo nổi tiếng của truyền thống tín ngưỡng Ấn Độ cổ đại, nhưng đó chỉ là con số đại diện cho hàng trăm từ tưởng, học thuyết và tín ngưỡng khác nhau tại xã hội Ấn Độ bấy giờ. Đến khi tìm hiểu sâu vào Kinh Phạm Vàng, chúng ta mới có thể hình dung được thế nào là thế giới tâm thức đa dạng, thế nào là học thuyết nhân như sợi tóc bị chẻ ra nhiều phần, từ những suy luận thiên kiến được cho là từ kinh nghiệm tu hành của các du sĩ ngoài đạo.
Đức Phật giảng pháp giáo dạy các đệ tử về bản chất ngoài đạo tại Vẩn Toòng
Trong tạng phẩm 2 của Kinh Phạm Vàng, Đức Phật giảng giải cắn kỹ về 62 tư thuyết hay quan điểm của các phái Sa-môn, Bà-la-môn ngoài đạo đương thời, được phân chia theo 2 thời gian, gồm: 18 quan điểm suy đoán về quá khứ và 44 quan điểm suy đoán về tương lai. Những quan điểm này phản ánh nỗ lực của nhân loại để hiểu rõ bản chất tồn tại, nhưng lại bị giới hạn bởi sự thiếu tuệ trí đúng đắn.
Mười Tám Quan Điểm Suy Đoán Về Quá Khứ
Có 18 loại chấp và vào sự thấy về “ngã” và “thế giới” trong quá khứ mà các Sa-môn, Bà-la-môn cho là từ nhập định, hồi tưởng đối trước để biết được. Các quan điểm này bao gồm những chủ trương mâu thuẫn nhau, từ việc khẳng định tính thường trực của tồn tại cho đến phủ nhận hoàn toàn. Mỗi quan điểm đều phát sinh từ sự giới hạn trong kinh nghiệm tu tập cá nhân và sự chấp thủ vào những suy luận riêng lẻ.
Bốn “Thường trú kiến” (Sassatavāda)
Các Sa-môn, Bà-la-môn nhớ về những đối trước, cách dưới một đến 40 đại kiếp, rồi thẩm sát, suy luận rằng ngã và thế giới là còn mãi. Họ cho rằng thế giới vật chất và tinh thần cả hai đều vĩnh viễn, không bao giờ chịu diệt vong. Đây là quan điểm thường trú—một trong những chấp thủ triệt để nhất về tính bất biến của thực tại.
Bốn “Thường trú và vô thường kiến” (Ekaccasassatavāda)
Từ kinh nghiệm quá khứ, các Sa-môn, Bà-la-môn nhận thấy Brahma—Đại Phạm Thiên thì trường sinh, còn chúng sanh do Brahma tạo ra có sinh tử, cuối cùng kết luận rằng thân không vĩnh bền, chỉ có tâm thường hằng không sinh-diệt. Trong quan điểm này, họ phân chia thực tại thành hai phần: phần vật chất tạm thời và phần tinh thần vĩnh hằng.
Bộ kinh Phạm Vàng giải thích chi tiết 62 quan điểm triết học của các ngoài đạo
Bốn “Hữu biên vô biên kiến” (Antānantavāda)
Vì thấy “thế gian vô trú có chơi cùng tốt; vô trú cũng có chơi cùng tốt—thế gian thì không cùng; vô trú trên dưới cũng có cùng tốt—ngang qua thì không; thế gian vô trú không có chơi cùng tốt” nên có phái chủ trương rằng Ngã và thế giới là hữu biên, vô biên, vừa hữu vừa vô biên, hoặc không hữu cũng không vô biên. Nhóm quan điểm này cố gắng giải quyết vấn đề ranh giới của vũ trụ nhưng lại dẫn đến những mâu thuẫn logic.
Bốn “Ngỡ biến hay bất định kiến” (Amarāvikkhepavāda)
Do không nắm chắc “không như thật biết ‘Đây là thiện’…không như thật biết ‘Đây là bất thiện’…” do sợ phát biểu sai; sợ chấp thủ; sợ chất vấn; do ngu dốt nên nói không xác thực, không xác định. Nên chủ thuyết này luôn nói võng quanh, trường uốn nhân như con lươn, không rõ ràng trong giải đáp, ngỡ biến lẩn tránh bằng cách nói: “Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế…Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế…”
Hai “Vô nhân kiến” (Adhiccasamuppannavāda)
Do dựa vào hồi ức từ cõi vô tưởng, cho rằng “tâm tự nhiên hiện hữu” hoặc dựa vào suy đoán, nên các Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương rằng Ngã và thế giới phát sinh không từ nguyên nhân nào hết. Họ phủ nhận mối liên hệ nhân quả, khẳng định mọi sự vật xuất hiện một cách ngẫu nhiên, tự phát.
Từ 18 quan điểm thiên kiến trên, chúng ta có thể phân biệt, liệt kê 62 tư kiến thành hai trường phái chính: có 7 quan điểm thuộc “chủ thuyết đoạn kiến”, chính là bảy quan điểm trong “đoạn diệt kiến—(ucchedavāda)”; và 55 từ tưởng còn lại thuộc về “chủ thuyết thường kiến”. Những chia rẽ này phản ánh sự phân hóa sâu sắc trong tìm tòi của nhân loại về bản chất tồn tại.
Bốn Mươi Bốn Quan Điểm Suy Đoán Về Tương Lai
Có 44 loại chấp vào sự thấy về Ngã mà các Sa-môn, Bà-la-môn “luận bàn về tương lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, độ xưỡng nhiều ý kiến sai khác”, gồm những nhóm quan điểm chính sau:
Mười Sáu “Hữu tưởng kiến” (Saññīvāda)
Gồm 16 loại, đó là: (1) Có sắc; (2) Vô sắc; (3) Vừa có sắc vừa vô sắc; (4) Không có sắc cũng không vô sắc; (5) Hữu biên; (6) Vô biên; (7) Vừa hữu biên vừa vô biên; (8) Không hữu biên cũng không vô biên; (9) Đồng nhất tưởng; (10) Sai biệt tưởng; (11) Hữu hạn tưởng; (12) Vô hạn tưởng; (13) Cực lạc; (14) Thống khổ; (15) Vừa lạc vừa khổ; (16) Không lạc không khổ. Những quan điểm này cố gắng mô tả trạng thái của ngã sau khi chết, nhưng lại tạo ra những hình ảnh mâu thuẫn và không khả năng xác minh.
Kinh Phạm Vàng là lối vào để hiểu các triết học đa dạng của Ấn Độ cổ đại
Tám “Vô tưởng kiến” (Asaññīvāda)
Chủ trương Ngã là bất biến và sau khi chết thì không còn tri giác, vô tưởng với tám quan điểm: “Ngã có sắc; Vô sắc; Vừa có sắc vừa vô sắc; Không có sắc cũng không vô sắc; Hữu biên; Vô biên; Vừa hữu biên vô biên; Không hữu biên cũng không vô biên”. Nhóm quan điểm này khẳng định tồn tại của một tự ngã nào đó nhưng phủ nhận khả năng nhận thức của nó.
Tám “Phi hữu tưởng phi vô tưởng kiến” (Nevasaññīnāsaññīvāda)
Chủ trương này cho rằng Ngã sau khi chết “chẳng phải còn cũng chẳng phải không còn tồn tại tri giác”, với tám trường hợp: (1) Có sắc; (2) Vô sắc; (3) Vừa có sắc vừa vô sắc; (4) Không có sắc cũng không vô sắc; (5) Hữu biên; (6) Vô biên; (7) Vừa hữu biên vừa vô biên; (8) Không hữu biên cũng không vô biên. Đây là những quan điểm áp đặt những giới hạn kỳ lạ lên trí tuệ con người, tạo nên những mâu thuẫn logic không thể giải quyết.
Bảy “Đoạn diệt kiến” (ucchedavāda)
Chủ trương Ngã bị hoại diệt tất cả sau khi chết. Nguyên nhân vì sự thấy biết bảy trường hợp: (1) Các loại sanh bằng thai; (2) Chỉ Thiên sâu cõi trời dục; (3) Phạm thiên ở cõi sắc; (4) Trời không vô biên xứ; (5) Trời thức vô biên xứ; (6) Trời vô sở hữu xứ; (7) Trời phi tưởng phi phi tưởng xứ, sau khi chết đều không còn. Đây là những lập luận tuyệt đối về sự triệt tiêu toàn bộ nhân cách sau cái chết.
Năm “Niết bàn hiện tại kiến”
Trường phái này cho rằng Niết bàn là thứ mà Ngã có thể đạt được trong đời hiện tại bằng những phương cách như: (1) Hưởng thụ năm môn dục; (2) Chứng được sơ thiền; (3) Nhị thiền; (4) Tam thiền; (5) Tứ thiền và cho đó đã là cứu cánh. Những quan điểm này buộc phải thụ hưởng các khoái lạc cảm giác làm tiêu chí cho giải thoát.
Sáu mươi hai tư thuyết trên là những quan điểm mang tính phiên diện của các Sa-môn, Bà-la-môn dựa vào sự thấy biết, suy đoán của cá nhân khi thiền định, tu tập, chấp thủ vào những suy luận đó, cho rằng chủ thuyết của mình là đúng, chỉ tôn thờ chủ nghĩa ấy, không chấp nhận quan điểm nào khác. Từ các quan điểm đã trình bày ở trên, ta có thể phân biệt và liệt kê 62 tư kiến thành hai trường phái chính: có 7 quan điểm thuộc “chủ thuyết đoạn kiến”, chính là bảy quan điểm trong “đoạn diệt kiến—(ucchedavāda)”; và 55 từ tưởng còn lại thuộc về “chủ thuyết thường kiến”.
Sai Lầm Cơ Bản Của Những Quan Điểm Ngoài Đạo
Tổng kết lại những quan điểm thiên kiến trên, Đức Phật kết luận rằng: “Nay các Tỳ kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, luận bàn…chấp kiến…y cứ về quá khứ tới sơ vã tương lai, độ xưỡng nhiều sở kiến sai khác. Những vị ấy sẽ chấp sâu mười hai luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa”. Nói đến tư kiến, Đức Phật cũng đã tác quyết: “…Nay các Tỳ kheo, ta không thấy có một pháp nào khác, mà do pháp ấy, chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, sẽ bị tái sanh vào cõi khốn khổ, vào cõi dữ, địa ngục, địa ngạc, như trường hợp người có tư kiến”.
Nguyên Nhân Phát Sinh Những Quan Điểm Khác Nhau
Nguyên nhân phát sinh quá nhiều luận chấp như trên là do các cảm thụ mà các Sa-môn, Bà-la-môn tự cho là có kinh nghiệm khi lục căn tiếp xúc với lục trần. Theo tiến trình của lý nhân duyên, từ thụ dẫn đến tham ái, tiến tới chấp thủ. Điều này giống như Kinh Udana diễn tả cái nhìn và chấp thủ phiên diện của các nhà ngoài đạo như người mù sờ một bộ phận của con voi rồi cho rằng: “…Con voi là như thế này, con voi không phải như thế kia! Con voi không phải như thế này, con voi như thế kia! Rồi họ dùng năm tay để đánh nhau…Cũng vậy, các du sĩ ngoài đạo là những người mù, không có mắt, vì vậy họ gây gỗ, tranh cãi, tranh chấp và làm tổn thương nhau bằng những lời nói bên nhau như mũi tên”.
Từ sự chấp thủ ấy dẫn đến hệ quả họ phải chịu sự dẫn dắt của nghiệp lực, do không quán triệt được bản chất các pháp vốn dễ luôn có năm tưởng trạng “tập khởi—diệt vong—vị ngút—nguy hiểm—xuất ly”, nên các quan điểm ấy bị bao trùm bởi “mắn lưới cõi trời Phạm”, dù có nhảy vọt lên cũng không cách nào vượt thoát. Việc này nhân như những con cá bị bao phủ trong lưới, “…tất cả những vị này đều bị bao phủ trong lưới của sáu mươi hai luận chấp này; dầu có nhảy vọt lên, những vị này vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây”.
Tuệ Tri Của Đức Phật Đối Với Quan Điểm Của Các Phái Ngoài Đạo
Kinh Phạm Vàng nêu lên 62 loại nhận thức về bản ngã và thế giới. Nghiên cứu kinh văn, ta có thể nhận thấy sau mỗi một chủ thuyết được đưa ra, Đức Phật đều khẳng định lại rằng: “…Nay các Tỳ kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: ‘Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy sẽ đưa đến các cõi thứ như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy’…”
Vào thời Đức Phật, cũng có nhiều quan điểm ngoài đạo cho rằng con người là bất toàn, cần phải nhiếp phục bằng cách ép xác để kiếp sau được sinh về thiên giới. Từ đó, họ phát minh nên nhiều phương cách khác kỳ và tu tập theo. Đức Phật đã chỉ bỏ lối tu này. Và Ngài “như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thụ, vị ngút, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, nay các Tỳ kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ”.
Đức Phật là người đầu tiên nói lên “giáo lý Duyên sinh” nên hơn ai hết, Ngài hiểu rõ nhất về quá trình sinh khởi và đoạn diệt của cảm thụ hay toàn bộ pháp hữu vi đều dựa trên nguyên lý “…cái này có thì cái kia có, cái này sanh thì cái kia sanh, cái này diệt thì cái kia diệt…”. Cảm thụ hiện hữu chỉ khi nào hội đủ các điều kiện từ sự giao thoa giữa căn và trần, nếu các điều kiện không còn, thì cảm thụ cũng biến mất. Như vậy mới đúng với bản chất “vô thường, vô ngã” của chúng.
Đạo Phật không để cao chủ nghĩa duy nghiêm—duy vật, cũng không để cao chủ nghĩa duy lý, Đức Phật bác bỏ mười cây câu hỏi siêu hình của 62 luận thuyết ngoài đạo. Triết học Phật giáo không nhìn về con người và thế giới một cách phiên diện mà có nhận quan toàn diện hơn, như: Ngũ uẩn duyên sinh, Vô ngã, Tính không,…Trong tác phẩm “The Buddha and His Teachings”, Đại Đức Narada có viết: “Ta không thể xác định khởi điểm của dòng đời của chúng sinh. Nguồn gốc và lịch trình tiến hóa của vũ trụ, Đức Phật không để cập đến”. Hay ở một đoạn khác, tác giả viết: “Phật giáo chủ trương rằng, chúng ta là sự cấu hợp của hai thành phần Danh và Sắc, Tâm và vật chất, và hai thành phần này ở trong trạng thái luôn luôn biến đổi như một dòng suối trường lưu bất tục”.
Đối với đường lối tu tập của Đức Phật, Ngài luôn nhấn mạnh mỗi người tránh xa các cực đoan, và không thiên chấp bởi điều gì, chỉ theo trung đạo để hướng tới giải thoát, không chủ trương bàn luận về thế giới hữu hình hay vô hình, hữu biên hay vô biên, cũng vượt ra ngoài các chủ nghĩa duy tâm và duy vật đơn thuần. Con đường giác ngộ của Phật giáo là con đường thánh đạo tám ngành, mà trong đó, chính kiến đứng đầu. Như Phẩm Rohitassa thuộc Tăng Chi Bộ Kinh, Đức Phật dạy: “Nay hiện giả, Ta tuyên bố rằng: ‘Tại chơi nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chơi tận cùng của thế giới’. Nhưng nay hiện giả, trong cái thân dài độ này, với những tưởng, những từ duy của nó, ta tuyên bố về thế giới, về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt”. Hay nói rõ hơn là nương theo tinh thần trung đạo mà tu tập mới có thể thắng hoa trên lộ trình trí giác.
Nhưng Là Tác Ý—Một Phương Pháp Trung Đạo
Trong giáo lý Phật giáo, thân—khẩu—ý giữ vai trò quan trọng hướng đến nghiệp lực hay dự dẫn dắt con người. Nghiệp (Kamma) nghĩa là “sự táo tác, tức là chỉ cho hoạt động của thân tâm như hành vi, hành động, hoặc chỉ cho những hoạt động của thân tâm do ý chỉ sinh ra”. Như trong Kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch (Nibbedhikasutta), Đức Phật dạy: “Nay các Tỳ kheo, Ta tuyên bố rằng suy tưởng [sự cố ý] là nghiệp: sau khi suy tưởng [cố ý], táo các nghiệp về thân, về lời, về ý”. Sáu mươi hai quan điểm của các ngoài đạo là những từ tưởng được hình thành dựa trên ý nghiệp—quan trọng nhất trong ba loại nghiệp, do tác ý thiên lệch, nên táo thành những tư thuyết dẫn đến tư kiến nhân chìm họ vào trong vùng lây của sự chấp thủ không vượt thoát ra được.
Thế nên, Đức Thánh Tôn luôn nhắc nhở hàng Đệ tử trước khi làm bất kỳ việc gì đều phải dựa trên sự “như là tác ý” tức là tác ý như thật, dựa trên chính kiến, chính tư duy và tinh thần Trung Đạo thì sự tu tập tâm và tuệ mới được thành tựu. Như trong Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, Ngài dạy: “Nay các Tỳ kheo, do không nhưng là tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được