Sinh ra trong cõi dục, luyện ái là bản chất của chúng sinh. Có thể nói rằng không ai trong chúng ta mà không có tâm tham, niềm ái, ý dục. Ái dục chảy trong máu, kết tinh trong xương, gồng lên trong ý tưởng phút giây của đời sống. Đặc biệt là luyện ái nam nữ, một nhu yếu cực kỳ quan trọng của đời sống thế tục đồng thời cũng là chướng ngại căn bản cho những ai đang đi trên lộ trình xuất thế, cố gắng vượt ra khỏi ái dục.
Riêng người xuất gia nguyên tu hành để vượt qua ái dục là chuyện không dễ dàng. Tuy nhiên, Đức Phật đã dạy cho chúng ta những phương pháp thiết thực để hiểu rõ bản chất của ái dục, từ đó tìm ra cách vượt qua những buộc ràng của nó.
Ái Dục: Rễ Của Sầu Khổ Trong Kinh Thánh
Kinh Tăng nhất A-hàm ghi lại một bài dạy sâu sắc của Đức Phật về ái dục. Tại vườn Cấp Cô Độc, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo: “Ta ở trong chúng này, chẳng thấy một pháp nào tối thắng, tối diệu, mê hoặc người đời, khiến chẳng được tĩnh lặng, buộc ràng giam giữ, không có lực giải thoát, như là dân bà trong thấy sắc của đan ông.”
Lời Phật dạy này chỉ rõ rằng tâm luyện ái của con người là một trong những yếu tố mạnh nhất khiến chúng ta bị giam giữ trong vòng sinh tử. Khi nhìn thấy sắc đẹp của người khác giới, tâm liền khởi tưởng, ở luyên ái, rất yêu kính, khiến người không đến được tĩnh lặng, buộc ràng giam giữ. Ý thức của con người quay vần qua lại đời này đến đời khác, luân chuyển trong năm đường, trải qua bao nhiêu kiếp.
Rễ của sầu khổ nằm sâu trong tâm ái của chúng sinh
Cách Trừ Ái Dục: Từ Quán Xét Đến Giải Thoát
Đức Phật tiếp tục dạy: “Nếu sanh tưởng điên đảo, dấy niệm tâm ấn ái, trừ niệm ý nhiễm trước, liền không các nhơn này.” Câu dạy này hướng dẫn chúng ta rằng để vượt qua ái dục, trước hết phải nhận ra những tưởng sai lệch trong tâm, từ đó duy trì sự chánh niệm và không để tâm bị ái dục chi phối.
Đức Phật sau đó nhấn mạnh: “Thế nên, này các Tỷ-kheo, nên trừ các sắc, chớ khởi tưởng dính mắc.” Lời dạy này có hai tầng ý nghĩa. Tầng thứ nhất là về phương pháp thực hành: cần tránh xa những kích thích về sắc dục, không để tâm mê hoặc vào những hình ảnh, cảm xúc bề ngoài. Tầng thứ hai là về nội tâm: dù đối mặt với các sắc, cũng phải duy trì chánh niệm, không để tâm bị dính mắc, khiêng kéo vào những luyến ái.
Ái Dục Cho Người Thế Tục: Tình Yêu Với Trí Tuệ
Vì ái dục là bản chất của chúng ta nên mỗi người dù là thế tục hay xuất gia cũng cần tháu hiểu để khai thác những yếu tố tích cực nhằm ứng xử phù hợp, thiết lập hạnh phúc, an vui cho cuộc sống.
Với người tại gia, tâm ái dục chính là tình yêu. Dễ hiểu là ái dục cần có từ bi nâng đỡ và trí tuệ sáng soi mới trở thành tình yêu đích thực. Yêu thương và tự nguyện đến với nhau là biểu hiện của ái nghiệp. Nghiệp này có nhân trong hiện đời và ở nhiều kiếp quá khứ với các tưởng quan thuận nghịch. Thuận là yêu thương mang đến hạnh phúc, nghịch là tình ái mang đến khổ đau.
Khi hạnh phúc thì cần phải giữ gìn. Gặp khổ đau thì tìm cách chuyển hóa. Nói một cách dễ hiểu, thực trạng của hạnh phúc hay khổ đau chính là biểu hiện ái nghiệp của chính mình. Tâm ái của chúng ta tạo ra kết quả mà chúng ta nhận lấy.
Tình yêu được tối sáng bởi trí tuệ mới là ái đích thực
Ái Dục Cho Người Xuất Gia: Con Đường Gian Khó
Riêng người xuất gia nguyên tu hành để vượt qua ái dục là chuyện không dễ dàng. Đức Phật cũng từng khéo nhắc rằng nếu ở đời có hai món vui thích như ái dục thì không ai có thể tu được. Vì khó khăn như vậy nên những ai một lòng nguyện đi theo con đường ly dục và vượt lên ái dục thì đáng để ta kính lạy.
Nhờ Tam Bảo gia hộ, Đức Phật xót thương, Giáo pháp soi đường, Tăng-giá bảo bọc. Nhờ thiện căn công đức huân tu trong nhiều đời kiếp quá khứ nâng đỡ, nhờ nơ lực thiền tập tinh tấn hết mình kể cả phải xả bỏ thân mạng, người xuất gia trong hiện đời mới thoát khỏi ái dục buộc ràng.
Xuất gia là lựa chọn vượt khỏi ái dục buộc ràng
Cân Bằng Giữa Tự Nhiên Và Tỉnh Thức
Những ai không kham nhận được, bị ái dục xâm chiếm và trói buộc trở về đời sống tại gia cũng là chuyện bình thường. Nam nữ luyến ái yêu thích lẫn nhau là chuyện thế thường. Người xuất gia còn tâm luyến ái cũng là chuyện bình thường. Vấn đề là tìm cách vượt qua nó thế nào, kết quả ra sao, thành công hay thất bại mà thôi.
Đức Phật dạy rằng khi chưa chứng A-la-hán thì đừng tin vào ý của mình. Chỉ có những bậc đã đoạn ái, ly tham, diệt dục, vượt bỏ thì mới tự tin đã thành công. Còn lại tất cả đều phải cố gắng. Dục thì bừng bừng như lửa dữ, ấm ào như gai thác nên dễ thấy. Những ái thì ấm ỉ như than lửa với tro, như nước ngấm len lỏi nên khó thấy, vi tế vô cùng.
Cần thiết lập ba chân văc Giới-Định-Tuệ, hãy vận dụng hai pháp tu căn bản là Chỉ và Quán xuyên suốt lộ trình tu học để vượt qua sông ái thắng đến bờ kia.
Bài Học Thiết Thực Cho Lộ Trình Tu Tập
Lời Phật dạy về ái dục không phải để kỳ thị hoặc lên án con người, mà là để chúng ta hiểu rõ bản chất khổ đau, từ đó chủ động tìm cách giải thoát. Dù bạn là người tại gia hay xuất gia, hiểu biết này giúp ta sáng suốt hơn trong từng bước đi của mình.
Người tại gia có thể biến ái dục thành tình yêu thực sự bằng cách kết hợp từ bi và trí tuệ. Người xuất gia có thể vượt qua ái dục nhờ chánh niệm, thiền định và hiểu rõ bản chất khổ đau. Dù lựa chọn nào, việc nhận rõ ái dục là chìa khóa để ta tự chủ trên con đường tu học của mình.
Hãy ghi nhớ lời Phật dạy: “Trừ các sắc, chớ khởi tưởng dính mắc.” Từ đó, hãy tu tập với thiều chánh niệm, thực hành với tâm cảnh tỉnh, và hướng về giải thoát là đích đến cuối cùng của con đường Phật học.
Tài liệu tham khảo: Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm 9. Một đứa con, VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.100