Khi nói đến lịch sử Phật giáo Việt Nam, nhiều người tưởng rằng giáo lý này truyền trực tiếp từ Trung Quốc. Tuy nhiên, các tài liệu lịch sử cho thấy sự thật phức tạp hơn. Phật giáo thực sự đến Việt Nam từ Ấn Độ vào những năm đầu Công nguyên, rồi sau đó mới truyền qua Trung Quốc. Đây là một sự kiện quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về đặc thù và sức sống của Phật giáo Việt Nam qua hơn 2000 năm phát triển.
Trung Tâm Phật Giáo Luy Lâu: Nơi Khởi Nguồn
Trong lịch sử hình thành Phật giáo Việt Nam, Luy Lâu được xem là trung tâm Phật giáo xuất hiện sớm nhất trong ba trung tâm Phật giáo thời kỳ khởi thuỷ ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Luy Lâu, nằm ở phía đông Bắc Hà Nội, ngày nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam, là một trung tâm Phật giáo phồn thịnh hơn hai trung tâm Phật giáo khác là Lạc Dương và Bình Thành ở Trung Quốc.
Thời kỳ đó, tại Luy Lâu có tín ngưỡng thờ tự nhiên rất phổ biến với niềm tin vào sương sáng, mây, mưa và các hiện tượng thiên nhiên khác. Khi Phật giáo Ấn Độ vào Việt Nam, các vị cao tăng đã tìm cách hòa hợp với những tín ngưỡng bản địa này. Do đó, truyền thuyết về Mẫu Nương sinh ra, giúp tạo nên hệ thống tín ngưỡng Tứ Phủ – một điển hình của sự giao thoa văn hóa. Gần với truyền thuyết Mẫu Nương ở vùng Dâu (Thuận Thành – Bắc Ninh), nghệ thuật và lễ hội Tứ Phủ hiện vẫn thịnh hành, mặc dù lễ cấu đạo đã hình thành theo cách hoàn vũ khác.
Các tài liệu lịch sử từ thế kỷ XIII-XIV mới lưu lại di tích rõ ràng của Luy Lâu. Trung tâm này được xem là một trong những trung tâm Phật giáo lớn và hình thành sớm nhất tại vùng Viễn Đông.
Chùa Dâu tại Bắc Ninh – một trong những di tích Phật giáo quan trọng của Việt Nam
Luy Lâu: Sớm Hơn Lạc Dương và Bình Thành
Khi nhìn vào bản đồ nước Trung Hoa thời cổ đại, chúng ta thấy có hai con sông chính là Dương Tử (Yangtze) và Hoàng Hà (Yellow River). Trên nền địa lý này, xuất hiện ba trung tâm Phật giáo quan trọng: Lạc Dương (Luoyang) ở tỉnh Hà Nam ngày nay, Bình Thành (Pengcheng) ở tỉnh Giang Tô, và Luy Lâu ở Việt Nam.
Những dứng giải quanh ba trung tâm này rất thú vị. Các học giả nghiên cứu ba trung tâm Phật giáo đời Hán đều thống nhất rằng chỉ có trung tâm Luy Lâu là chúng ta biết được rõ ràng nguồn gốc thành lập. Còn hai trung tâm kia, không ai quyết chắc được chúng được tạo lập từ đâu. Có những chi tiết trong Hậu Hán thư và sách Ngô chí chứng tỏ rằng trung tâm Lạc Dương là do trung tâm Bình Thành tạo dựng.
Theo nghiên cứu của các học giả Trung Hoa như Hồ Thích, con đường từ Luy Lâu đến Bình Thành có thể đi bằng đường thủy hoặc đường bộ. Ông nói rằng có những vị tăng sư khởi hành từ Giao Châu đi tới Quảng Tây (tức Vũ Tây), rồi từ Quảng Tây đi tới Quảng Đông. Sau đó họ vượt đường núi để đến miền hạ lưu sông Dương Tử, tức là đến Bình Thành.
Hậu Hán thư cũng có đoạn nhắc đến những chuyến đi này: “Quận Nhật Nam đem phẩm vật công hiến Hán đế bằng đường biển. Khương Tăng Hội là một vị tu sư dùng dải người Khương Cư, sinh trưởng trên đất Giao Châu vào đầu thế kỷ thứ ba, đã đi từ Giao Châu đến hạ lưu sông Dương Tử để truyền đạo”. Như vậy con đường mà Hồ Thích nói đến chính là con đường mà thiền sư Khương Tăng Hội đã đi để vào nước Ngô dạy đạo.
Vậy trong ba trung tâm Phật giáo đời Hán vừa kể, trung tâm nào được thành lập sớm nhất? Hiện giờ chưa có câu trả lời dứt khoát. Nhưng dựa vào nguồn gốc, chỉ có trung tâm Luy Lâu tại Giao Châu là ta biết chắc chắn do đâu được thành lập. Nguồn gốc của hai trung tâm Lạc Dương và Bình Thành vẫn còn rất mờ. Có nhiều dứng giải khiến chúng ta nghĩ trung tâm Luy Lâu được thành lập sớm nhất và trung tâm này đã là bậc đầp cho sự thành lập các trung tâm Bình Thành và Lạc Dương ở Trung Hoa.
Bản đồ cổ minh họa con đường truyền bá Phật pháp từ Ấn Độ vào Giao Châu
Phát Triển Phật Giáo Việt Nam Qua Các Thời Kỳ Lịch Sử
Đạo Phật truyền bá vào Việt Nam đã trên 2000 năm và nhanh chóng thích nghi với lối sống của người Việt. Những quan điểm trong giáo lý và giáo luật của Phật giáo gần với đời sống tâm linh của người Việt, với những nét văn hóa đặc sắc Việt Nam.
Trong quá trình phát triển dài đó, do sự thay đổi của tình hình kinh tế, chính trị xã hội của đất nước, đạo Phật cũng trải qua một số bước phát triển và hình thành nên một số giai đoạn tương đối rõ rệt.
Ảnh Hưởng Phật Giáo Ấn Độ Và Trung Quốc
Thứ nhất, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc. Trong quá trình phát triển, Phật giáo Việt Nam từ việc chịu ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ đã chuyển sang chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc. Từ thế kỷ VI đến thế kỷ X, Phật giáo Việt Nam tiếp nhận thêm những đoàn truyền giáo của Trung Quốc. Không bao lâu Phật giáo Bắc phương đã chiếm ưu thế và thay vị trí của Phật giáo Nam phương vốn có từ trước.
Sự ảnh hưởng đó cũng được thể hiện qua việc ba tông phái chính của Trung Hoa cũng được truyền vào Việt Nam đó là Thiền tông, Mật tông, Tịnh Độ tông và qua một số tập tục như: tập tục đốt vàng mã, tập tục coi ngày giỗ, tập tục cúng sao hạn, xin xăm, bói quẻ. Vì thế Phật giáo Mật tông đã bao trùm mọi tín ngưỡng bình dân trong lòng nó tại Ấn Độ cũng như ở Giao Châu lúc bấy giờ. Riêng ở Giao Châu nước ta, khuynh hướng này rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian thờ phục thần, nhiên thần, thờ Mẫu, tín ngưỡng vật linh. Đồng thời phù hợp với phong tục của người Việt nên nó trở thành một yếu tố khá quan trọng trong sinh hoạt Thiền môn.
Kiến trúc truyền thống của chùa Việt Nam phản ánh ảnh hưởng Phật giáo
Thiền Tông: Nước Rút Phát Triển Phật Giáo Việt Nam
Thứ hai, Phật giáo Việt Nam phát triển theo khuynh hướng Thiền. Trong hoàn cảnh văn hóa giao lưu phức tạp, Phật giáo Việt Nam ở thời kỳ này phát triển theo khuynh hướng Thiền.
Theo Nguyễn Lang trong “Việt Nam Phật giáo sử luận”, Thiền học Việt Nam khởi đầu bởi Khương Tăng Hội vào đầu thế kỷ III. Các nhà nghiên cứu khẳng định rằng Thiền ở Việt Nam trở thành tông phái bắt đầu từ Tứ Ni Đạ Lưu Chi. Năm 580, Tứ Ni Đạ Lưu Chi sang Giao Châu trú tại chùa Pháp Vân giảng dạy Phật pháp và lập ra dòng Thiền đầu tiên ở chùa Dâu. Từ đó dòng Thiền bắt đầu phát triển ở nước ta.
Sang đến thế kỷ thứ IX, Phật giáo Việt Nam còn có thêm một môi giao lưu khác là Thiền tông Trung Quốc truyền sang với dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Thiền phái này mang đậm dấu ấn Thiền học Trung Hoa với tư tưởng chân lý ở ngay trong lòng mình, Phật tại tâm. Chân lý đó giúp con người có thể tu chứng trực tiếp, chứ không cần nắm bắt qua ngôn ngữ, văn tự. Thiền phái Vô Ngôn Thông chủ trương bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật.
Tóm lại, Phật giáo Việt Nam thời Lý – Trần đã phát triển trên cơ sở của ba môi giao lưu – tiếp biến bộ có 3 nguồn du nhập:
- Phật giáo Đại thừa với khuynh hướng Thiền học từ Nam Ấn trực tiếp truyền sang bằng đường biển từ cuối thế kỷ thứ I trước Công nguyên hoặc những năm đầu sau Công nguyên với kinh văn hệ Bát nhã;
- Thiền tông Ấn Độ truyền sang Trung Quốc rồi đến Việt Nam với vai trò của ngài Tứ Ni Đạ Lưu Chi vào thế kỷ thứ VI với tư tưởng vô trụ, siêu việt hữu – vô;
- Thiền tông Trung Quốc truyền vào Việt Nam với vai trò của ngài Vô Ngôn Thông vào thế kỷ thứ IX với phương pháp đơn độ và tư tưởng Phật tại tâm.
Đặc Điểm Phật Giáo Đại Thừa Và Tín Ngưỡng Bình Dân
Thứ ba, với đặc điểm phần lớn người Việt Nam không biết chữ để nghiên cứu kinh điển Phật giáo nên Phật giáo Đại Thừa phát triển và chiếm ưu thế. Điều này được thể hiện rõ khi ta xem xét những quan điểm trong sách “Lý Hoặc Luận” của Mẫu Tử và trong các kinh mà Khương Tăng Hội đã dịch. “Trong bài tựa kinh ‘An ban thứ ý’ Tăng Hội có viết: ‘An ban là Đại thừa của chư Phật để tế độ chúng sinh…’. Ngoài ra ông còn dịch kinh ‘Tiểu phẩm bát nhã’ (Bát thiên tứ bát nhã) là kinh điển căn bản và xuất hiện sớm nhất trong văn hệ Bát Nhã thuộc khuynh hướng Đại thừa'”.
Thứ tư, Phật giáo khi truyền vào Việt Nam đã được tiếp xúc ngay với tín ngưỡng bản địa. Thứ năm, Phật giáo bước đầu đã có sự hòa dung với Nho giáo và Đạo giáo.
Những bảo vật Phật giáo còn lưu giữ trong các chùa Việt Nam qua hơn 2000 năm
Phật Giáo Việt Nam: Từ Độc Lập Đến Hòa Nhập Hiện Đại
Thứ sáu, Phật giáo đã tích cực đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống xâm lăng và đồng hóa. Ngay từ khi Phật giáo truyền vào Việt Nam, các vị cao tăng đã nhận thức rõ ràng về vai trò của đạo Phật trong việc gìn giữ độc lập dân tộc. Những chùa tự hóa thành nơi khuyến khích tinh thần kháng chiến, nơi che chở cho những người phục vụ đất nước.
Trong suốt lịch sử, Phật giáo Việt Nam đã góp phần tạo nên tầng lớp trí thức tiêu biểu, với tinh thần nhập thế, gánh vác trách nhiệm trước dân tộc trong thời kỳ đầu gian nan xây dựng độc lập (thế kỷ X) và họ đã hoàn thành sứ mệnh đó.
Thứ bảy, Phật giáo trong thế kỷ XXI. Để phát huy vai trò nhập thế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, khai hiểu hiện đại hóa đất nước ở thế kỷ XXI hoàn toàn thích hợp với phương châm “Trí-tức-hành” trong đạo Phật, là biết dùng các phương thức sử dụng tài năng để soi xét, tìm hiểu. Dùng lý trí để phân đoán sự vật mà không để tình cảm xen lẫn vào. Một trong bốn điểm của “Tứ nhiếp pháp” là người xuất gia hay tại gia làm tất cả mọi công việc hoằng pháp xét thấy có lợi cho bản thân và tập thể. Giai đoạn đổi mới và hội nhập hiện nay là cơ hội tuyệt vời để áp dụng khái niệm “Trí hành hợp nhất” của Phật giáo. Bởi từ ngàn xưa Phật giáo có vai trò rất quan trọng đối với các sách lược nhằm “trị quốc, an dân bình thiên hạ” thông qua tinh thần “Bi-Trí-Dũng”. Nên được là một người tu sư Phật giáo Việt Nam là điều vinh dự lớn khi được kế thừa truyền thống quí giá của dân tộc.
Ngay từ ngàn xưa, chùa không chỉ là nơi tu hành mà còn là nơi khuyến học, nơi cứu tế, nơi đấu tranh cho tự do và độc lập. Mấu chốt là Phật giáo Việt Nam, đang và sẽ làm gì với tinh thần thích ứng, tùy duyên mà bất biến – để hòa giải cho việc phát triển những thiếu tính bền vững ở nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế và văn hóa, nhằm đáp ứng cho bước phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước ở thế kỷ XXI.
Kết Luận: Phát Huy Truyền Thống Phật Giáo Cho Thời Đại Mới
Việc Phật giáo du nhập vào Việt Nam cho thấy Việt Nam có vị trí thuận lợi, là nơi giao thoa giữa nền văn minh Ấn Độ và Trung Hoa. Việc Phật giáo được truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam ở thời kỳ sơ khai, được xác định qua các dứng giải lịch sử của các nhân vật ở lại Việt Nam hoằng hóa, thì Phật giáo được truyền theo trục từ Ấn sang Hoa và ngược lại từ Hoa sang Ấn, mà Việt Nam thì ở chính giữa. Do đó người Việt Nam thời bây giờ chắc chắn đã thu nhập tư tưởng Phật giáo của cả hai con đường vận chuyển tư tưởng nói trên.
Khi đạo Phật truyền vào làng xã, hòa vào văn hóa Việt Nam, thì làng xã không chỉ là một cộng đồng quân cư, một đơn vị hành chính mà còn là một cộng đồng tôn giáo. Chùa làng là điểm cố kết nhân tâm, là nơi khuyến bảo người dân sống theo đạo lý Phật giáo. Phật giáo đã góp phần làm phong phú thêm văn hóa làng Việt. Hàng nghìn năm, dân ta có lúc mất nước nhưng không mất làng. Văn hóa làng – trong đó chứa nhiều “hàm lượng” văn hóa Phật giáo – vẫn tồn tại. Gắn bó với văn hóa làng, gắn bó với dân tộc Việt, đối phó với những chính sách hà khắc của ngoài xâm, các thiện sư Việt Nam đã hun đúc ý thức về một nền độc lập dân tộc. Phật giáo đã tạo nên tầng lớp trí thức tiêu biểu, với tinh thần nhập thế, gánh vác trách nhiệm trước dân tộc trong thời kỳ đầu gian nan xây dựng độc lập (thế kỷ X) và họ đã hoàn thành sứ mệnh đó.
Nền tảng của bảy giai đoạn phát triển Phật giáo Việt Nam được xây dựng cơ bản trên hai nền tảng tư tưởng, một là nền tư tưởng Phật giáo quyền năng và hai là tư tưởng tục tâm tục Phật. Hai nền tảng Phật giáo này hòa quyện với nhau, thâm sâu vào đời sống tâm linh của con người Việt Nam. Và nó gắn liền với sự phát triển của lịch sử dân tộc, lấy sứ mệnh của dân tộc làm sứ mệnh của mình. Đó là tính nhất quán của lịch sử Phật giáo Việt Nam, được biểu hiện qua những bước chuyển mình, đáp ứng yêu cầu của từng chặng đường lịch sử cụ thể, vì lợi ích chung của dân tộc.
Hôm nay, khi nhìn lại quá trình phát triển của Phật giáo Việt Nam qua hơn hai ngàn năm, chúng ta càng nhận thức rõ rệt giá trị lâu dài của giáo lý Phật đà. Từ những trung tâm Phật giáo sớm nhất như Luy Lâu, Phật giáo đã gắn bó với từng giai đoạn lịch sử của đất nước. Tinh thần “thích ứng” – “tùy duyên” mà “bất biến” của Phật giáo cho phép nó không ngừng tìm cách hòa hợp với thực tế hiện tại, để tỏa sáng giáo pháp cứu độ chúng sanh trong bất cứ thời đại nào.