Image default
Luận Giải & Nghiên Cứu Phật Học

Nhìn Lại Tiến Trình Tu Chứng Bốn Bề, Hướng Thượng Trong Đêm Phật Thành Đạo

Sau 49 ngày đêm chuyên sâu vào thiền quán, tu tập tâm lý dục, ly ác pháp, Đức Phật Thích Ca đã chiến thắng nội chướng lẫn ngoại ma, náo tham luyến, dục vọng, phiền não, sân hận, đối khát, cô đơn… luôn hiện đến quấy nhiều. Thông qua câu chuyện giác ngộ của Ngài, chúng ta được nhìn thấy tiến trình tu chứng ba mươi năm của vị Phật như thế nào – một hành trình không phải chỉ là sự giác ngộ trong một sát-na duy nhất, mà là quá trình tu tập bền bỉ, hướng thượng suốt vô lượng kiếp.

Trong Tăng chi bộ kinh III, phẩm IX pháp, Đức Phật đã kể lại cho gia chủ Tapussa và tôn giả A-nan về tiến trình chứng ngộ trong đêm thành đạo. Tiến trình giải thoát của Đức Phật cho thấy sự giải thoát giác ngộ của Ngài là cả một quá trình tuần tự qua 9 cấp bậc thiền chứng, từ Sơ thiền cho đến Diệt thọ tưởng định, để cuối cùng đoạn diệt các lậu hoặc, thành bậc Chính Đảng Chính Giác. Tiến trình này cũng chứng tỏ không có vấn đề hoạt nhiên đại ngộ. Sự thành đạo của Ngài là cả một quá trình tu chứng kiên trì lâu dài bền bỉ, luôn luôn hướng thượng như trong Kinh đã diễn tả.

Ngộ đạo dưới cây Bồ-đề trong đêm Phật thành đạoNgộ đạo dưới cây Bồ-đề trong đêm Phật thành đạo

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Đêm kia, dòng sông Nerañjarā lập lá lành ánh trắng. Gió thời rì rào xuyên qua rừng cây tràm mặc. Hương hoa cỏ duyên diễu dàng, thoang thoảng giữa không gian. Bộ tát Tất Đạt Ðạ sau khi chiến thắng nội ngoại ma, Ngài ngồi yên tĩnh theo dõi hơi thở với tâm và trí hoàn toàn tỉnh thức và thanh khiết…

1. Canh Một: Đức Phật Chứng Đặc Túc Mạng Minh

Bấy giờ, cả một khối thân tâm đã trở nên thuần nhất, được giác niệm lung linh soi chiếu; không thấy trong, không thấy ngoài, không thấy ngã, không thấy ngã sở; ngài chỉ thấy hơi gió vào ra, cùng lúc cùng nhẹ, cùng mộng… Rồi dần dần, lần gió ấy chết trở nên trong vắt, sáng như ánh trăng rằm vừa ra khỏi sương mù… Bộ tát Tất Đạt Ðạ lần lượt đi vào Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền một cách dễ dàng, không có một gắng sức nào…

Với năng lực của tâm định hoan toàn vững chắc, kiên cố, Bộ tát Tất Đạt Ðạ xuống căn hành, sử dụng tâm và tứ hướng tâm đến tiền kiếp…

Chỉ một sát-na sau, Ngài lần lượt thấy rõ các kiếp sống quá khứ của mình. Từ một kiếp, hai kiếp,… mười kiếp, hai mươi kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, trăm ngàn kiếp, kiếp quá đất, nhiều đại kiếp quá đất vô giới hạn… Ngài thấy rõ mỗi kiếp, với hình ảnh rõ ràng, với vóc dáng như vậy, dòng họ như vậy, tuấn tên như vậy, y báo, chính báo như vậy, khổ vui như vậy, nghiệp đến đây như vậy, nghiệp ra đi như vậy… Nhờ định tĩnh sâu xa, và cũng nhờ nội tâm đã lắng dứt mỗi tùy miên kiết sử nên Bộ tát Tất Đạt Ðạ không hề khơi lên kinh cảm khi thấy mình từng mang lớp nhiều kiếp thú như chó, ngựa, voi, chim, chuột… Còn làm cả dạo-xoa, A-tu-la, thế thần, chư thiên, phạm thiên… cũng rất nhiều kiếp nữa. Nhưng nhiều nhất là làm người: thương gia, triều phủ, nông dân, tiểu phو, giáo sư, vua chúa, quan đại thần, quốc sư…

Và vô lượng kiếp tu tập, xuất gia, hành các pháp Ba-la-mật…

Trong vô lượng vô biên kiếp sống ấy, Ngài không tìm thấy đâu là con người thực của mình. Tất cả chúng đều do dòng nghiệp vể ra, tạo nên. Sự sinh, sự diệt trùng trùng, hóa thân trùng trùng, sâu bi khổ ưu não nào cũng trùng trùng… Tất cả chúng đều như từ sương khói mà hiện ra, từ sương khói mà diệt mất, đường như vô căn, vô cội nhưng chỉ có một dòng chảy, dòng chảy của sinh mạnh, nghiệp lực liên liếc từ vô thủy đến vô chung… Tuy liên liếc nhưng không phải hằng hữu. Chúng chuyển biến, dịch hóa, thay đổi liên tục, mỗi mở liên tục…

Không có gì mất đi mà cũng không có gì thượng tại… Bộ tát Tất Đạt Ðạ xả thiền, lúc ấy chỉ vừa qua canh một. Thế là Ngài đã chứng đặc Túc mạng minh (Pubbenivāsānussatiñāṇa) khi mặt trăng từ hướng Đông mới lên đến đầu tán cây Assattha.

2. Canh Hai: Đức Phật Chứng Đặc Thiên Nhãn Minh

Mềm nụ cười vi diệu như nụ hoa hàm tiểu ở trong tâm, rồi không để uống phí một sát-na nào, Bộ tát Tất Đạt Ðạ lại nhiếp niệm đi vào tứ thiền sắc giới, kiên trú định; trở lại căn hành, dùng tâm ý tứ, hướng tâm đến sự sinh tử của chúng sinh. Thế rồi, như cuộn phim quay nhân quả hiện hiện rõ ràng trong nội tâm, Ngài thấy sự đi vế, tới lui, thấp hơn, cao thượng, xấu đẹp, khổ vui của tất cả chúng sinh từ quá khứ, hiện tại hay vị lai. Nếu thân hành ác, khẩu hành ác, ý hành ác thì rơi vào bốn cảnh khổ. Ngược lại, thân hành thiện, khẩu hành thiện, ý hành thiện thì được sinh thú cơi người, cơi trời nào đó tương ứng với hành nghiệp ấy.

Tiếp tục đi sâu, đi xa, theo dõi dòng nghiệp của chúng sinh, Bộ tát Tất Đạt Ðạ còn thấy được tâm hướng của từng chúng sinh một, với quả báo vị lai xa xăm cho đến hàng sa sinh diệt của quả địa cầu! Vậy là tất cả tác nhân, quả báo tạo nên sinh thú của tất cả chúng sinh đều được Ngài nhìn thấy rõ như các đường chỉ trong lòng bàn tay của mình.

Như thế là vào cuối canh hai, khi mặt trăng vừa chính xác cơi cây Assattha, Bộ tát Tất Đạt Ðạ chứng đặc Thiên nhãn minh (Dibbacakkhuñāṇa).

3. Canh Ba: Đức Phật Chứng Đặc Lậu Tận Minh

Trở lại tứ thiền, nuôi dưỡng phê lạc thâm sâu, vào an chỉ định, trở lại căn hành, dùng tuệ minh sát quán chiếu từ thân; ngài thấy rõ rằng, không còn một phiền não nào liên hệ đến ngũ trần (kāmasavakiles), không còn một phiền não nào liên hệ đến nhằng chấp thủ ta, của ta, người và chúng sinh (diṭṭhisavakiles), không còn một phiền não nào liên hệ đến nhằng dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu (bhavāsavakiles), không còn một phiền não nào liên hệ đến si mê, vô minh (avijjāsavakiles).

Khởi chính từ duy, Bộ tát Tất Đạt Ðạ tự nghĩ: Tất cả nhằng phiền não ngủ ngăm, vi tế ấy không có ai hay biết dâu loại người thông tuệ hoặc chư thiên, phạm thiên có nhiều năng lực. Cho chí nhằng đạo sĩ tuyệt luận đặc bát thiền và ngũ thông như Kāḷadeva cũng đã đánh chịu. Hai vị đạo sĩ nổi danh về chứng đặc cũng với sự chấp thủ của họ cũng chỉ là duyên nối dài cho sự sinh tử, luân hồi vô tận mà thôi!

Thế rồi, với tuệ giác vô nhiễm, rằng ngộ, trong sáng như pha lê, Bộ tát Tất Đạt Ðạ thấy rõ chúng. Muốn chấm dứt luân hồi sinh tử, khổ đau, phiền não thì phải biết thao gỡ nhằng chiếc khoen – mà chiếc khoen vô minh, si mê, lầm lạc là quan trọng nhất. Nếu sáng suốt, tỉnh giác, tỉnh thức, tuệ minh chiếu soi thì sẽ không có hành nghiệp, tạo tác nhân để mai sau gặt quả. Thức tìm kiếm tái sinh không còn thì được vọng trở thành sẽ không có cơ hội này mầm. Và nếu không tham đắm, mê say các cảm thọ thì các chấp thủ làm sao hiện hữu được?

Thủ không có thì hữu, tái sinh, giá lão, sâu bi khổ ưu não sẽ rã tan như nhằng hạt sương treo trên đầu nắng…

Khi thấy rõ toàn bộ sự vận hành duyên khởi ấy, tâm và tuệ của Bộ tát Tất Đạt Ðạ sáng trong như viên ngọc mạnh không tì vật. Ngài trú và vào miền tĩnh lặng thâm sâu với sự hoan hỷ, lạc phúc như trần đầy nội tâm và cả hư không giới. Như ai ăn người ấy no, như uống nước, nóng lạnh tự biết, Bộ tát Tất Đạt Ðạ chứng nghiêm được điều mà thế gian chưa từng ai chứng nghiêm.

Sự sinh, sự diệt của từng sát-na duyên khởi vô ngã tính giải thích toàn bộ khổ khổ đau, nguyên nhân của nó, và con đường dập tắt mỗi ảo tưởng, ảo giác của chúng hữu tính. Khi ảo tưởng, ảo giác không còn thì nhằng sinh niệm trôi lăn sẽ tự động chấm dứt. Sự chấp thủ các uẩn, các hữu chết rã tan như nhằng đóm hoa, không thực hữu – khi có tuệ nhãn, trí thông, trí minh chiếu soi. Mỗi tham muốn lầm lạc, sai biệt với các định luật của nhiên giới, tâm giới, pháp giới sẽ không còn ảo ảnh để đeo nịu, mê đắm nữa.

Tất cả đều được trả về nguyên trạng khi nó chưa từ biết cố hướng, chưa bị vây bấn bởi bụi độc, bùn đen và cát tía. Trạng sáng. Hoa nở. Chim hót. Sương mù. Lá rơi. Suối chảy. Nhận biết. Lắng nghe. Cảm giác… Tất tất chúng đều hiện ra như chân như thực. Không cái gì bị che kín. Không cái gì bị mất đi. Không cái gì thượng còn. Bất tử là vậy. Giá trị hằng cứu và ý nghĩa tối thắng của cuộc đời này phải được lập cước từ cái thấy biết toàn diện và chân chính ấy. Và đó là chính kiến. Có cái thấy đúng ấy mới có cái suy nghĩ đúng — chính tư duy. Có cái suy nghĩ đúng mới có nói năng đúng — chính ngữ. Có nói năng đúng mới có hành đường đúng — chính nghiệp. Có hành đường đúng mới có nuôi mạng đúng — chính mạng. Có nuôi mạng đúng mới có nhiệt tâm, nỗ lực, tinh cần đúng – chính tinh tấn. Có nỗ lực, tinh cần đúng mới có chủ tâm, ghi nhận đúng – chính niệm. Có chủ tâm, ghi nhận đúng mới có được yên tĩnh, bình tĩnh, định tĩnh, trăn nhiên bất động trước mỗi cơn gió bão của nội ngoại ma — chính định.

Đây là con đường. Là đạo lộ diệt tận khổ đau, phiền não. Là yếu chỉ, bí quyết giải thoát tất cả mỗi bước, mỗi lưu, mỗi triển, mỗi phước, mỗi kiết, mỗi sĩ… ngủ ngăm trong hỏ thẳm vô thức từ vô lượng kiếp. Là giáo pháp vô năng thắng. Là cái mà từ quá khứ, hiện tại, vị lai chưa có mặt trên cuộc đời… Như vậy là cái thấy của Bộ tát Tất Đạt Ðạ đã ở ngoài sinh tử, đã vượt thoát sinh tử. Không còn cái lưới nào bủa vây, nhất kính tuệ giác của Ngài được nữa. Sáng trong vắng vẻ. Ngài mỉm cười như nụ hoa sen hàm tiểu. Hào quang từ nơi vắng trán của Ngài chết tỏa ra, vừa rực rỡ, ấm áp như tia nắng mặt trời, vừa dịu dàng mở như ánh sáng mặt trăng…

4. Canh Tư: Đức Phật Chứng Đặc Ngộ Chính Đảng Chính Giác

Thế là vào canh cuối, trăng sắp lặn, sao mai vừa mọc, tháng Vesākha, dưới cây Bồ-đề, bên sông Nerañjarā, gần tù lạc Uruvelā, Bộ tát Tất Đạt Ðạ đã chứng đặc quả vị Ðại A-la-hán, Chính Đảng Giác; lúc ấy Ngài vừa đứng ba mươi lăm tuổi…

Tiến trình tu chứng bốn bề này của Đức Phật Thích Ca không chỉ là những sự kiện thiêng liêng, mà còn là bài học sâu sắc về con đường tu tập của người Phật tử. Từ canh một khi Ngài chứng được Túc mạng minh, ta hiểu rằng hiểu biết quá khứ không phải để cương quyết mà để từ bi. Canh hai với Thiên nhãn minh cho thấy tuệ minh giúp ta nhìn rõ nhân quả của mỗi hành động. Canh ba với Lậu tận minh giáo cho ta rằng muốn diệt tận phiền não, ta phải hiểu rõ nguyên nhân của chúng. Cuối cùng, canh tư – Chính Đảng Chính Giác – là đỉnh cao của sự giác ngộ, nơi tất cả những gì đã tu chứng hòa quy một.

Sự tu chứng bốn bề hướng thượng này của Đức Phật là gương sáng cho mỗi người học Phật. Dù con đường ta có khác, nhưng tinh thần kiên trì, hướng thượng và sáng suốt tuệ minh vẫn là những hạt nhân vàng của tu tập. Hãy lấy Ngài làm nơi tựa, hãy tin tưởng rằng con đường giải thoát là khả thi với ai có duyên và kiên nhẫn tu tập.

Related posts

Ni Giới Việt Nam Cùng Phật Giáo Trong Dòng Chảy Lịch Sử

Administrator

Hai Người Chính Là Hai Mình – Pháp Tắc Nhân Quả

Administrator

Con Dao Trong Tâm: Bài Học Phật Giáo Về Tâm Tạo Tác

Administrator