Để an vui, người con Phật hãng quán sát “vô thường” là đặc tính cơ bản của thế gian. Trong vũ trụ này, chỉ có sự vô thường mới thực sự thường hằng. Nói cách khác, không hề có sự vĩnh cửu, thường hằng nào cả. Đây là tuệ giác lớn mà chúng sinh cần phải có để vượt ra khỏi khổ.
Khi người thân mất đi – chính là thời khắc mà chúng ta cảm nhận về sự mất mát rõ ràng nhất – dầu sinh diệt vẫn liên tục diễn ra quanh ta trong mỗi phút giây. Dễ dàng cảm xúc vọng ái, mất mát trào dâng, đau thương ngứt ngòn khi ly biệt xảy đến là lẽ thường của nhân tính. Ái biệt ly khổ! Thương kính cha mẹ còn nhiều thì niềm đau cũng lớn, lo sợ cũng khôn nguôi.
Ai cũng có cha mẹ, và cuối cùng thì dầu duyên nghiệp thế nào, con cái có trí tuệ hay không thì cha mẹ cũng lần lượt ra đi như một quy luật lạnh lùng, nghiệt ngã. Vẫn biết biệt ly là chuyện không thể níu kéo, trì hoãn hay vãn hối.
Mỗi ngày nhìn xe tang qua phố với bao kẻ “mẹ cơi” lủi lủi tiến đưa mẹ lo sợ cho chính mình. Và rồi chuyện gì sẽ đến cũng đã đến. Người đi thì đã đi, người còn thì không thể ngả quơ dù tiếc thương đến mấy. Phải gương dậy và đứng lên, biến đau thương thành câu nguyện.
Câu Chuyện Vua Ba-tư-náy Thấy Sâu Lo
Thời Thế Tôn còn tại thế, vua Ba-tư-náy, một vị quân vương Phật tử hộ pháp thuần thành, khi mẹ vừa qua đời ông đến đánh lễ Thế Tôn và được dạy pháp “trừ sâu lo”. Lạ lùng là, Thế Tôn không dạy vua Ba-tư-náy về cách thức cầu siêu cho người mất hay tang lễ theo tập tục mà ngài lại dạy pháp bình an cho người sống – chính xác là dạy cầu an.
Có lẽ tang nghĩ của bậc quốc mẫu thì đã có triều đình lo; có thể tập tục tang ma xử áng ấn ngày xưa khác biệt với xử mà mình hiện tại? Có khi nào, cầu an cũng chính là cầu siêu? Pháp “trừ sâu lo” là cầu an nhưng cả người sống và người chết cũng đều cần nhận thức rõ hoa của cuộc sống.
Vua Ba-tư-náy nơi đắc vị, quyền uy tối đỉnh, thương kính mẹ như lòng tín tâm
“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ vua Ba-tư-náy ra lệnh quân thần sửa soạn xe và báo muốn ra khỏi thành Xá-vệ xem đất là m giảng đường. Ngay lúc đó, mẹ vua Ba-tư-náy tuổi quá giá yếu, vừa đứng được trăm tuổi, vua rất tôn kính nhưng nghe chưa từng rời mắt (vừa mạng chung).” Vị cận thần của vua Ba-tư-náy tên Bạt-xã-mặt tài cao cái thế, được người đời tôn trọng. Vị đại thần này suy nghĩ: “Nếu mẹ vua nghe tin, chắc vua rất sâu lo, không ăn uống được, rồi bị bệnh.”
Phương Tiện Khéo Léo Trừ Lo Sầu
Đại thần liền sửa soạn năm trăm voi trắng, năm trăm ngựa tốt, chỉnh đội năm trăm bộ binh, sửa soạn năm trăm kỹ nữ, năm trăm bà giáo, chỉnh đặt năm trăm Ba-la-môn, năm trăm Sa-môn, sửa soạn năm trăm y phục, và bày năm trăm trân báu, làm quan tài lớn đẹp cho người chết, tô vẻ cực đẹp, treo phướn lảng, trải kỹ nhạc không thể tính kể, ra khỏi thành Xá-vệ.
Lúc ấy, vua Ba-tư-náy trở vào thành vì có chút việc. Vua tự xa thấy người chết, mới hỏi tả hữu: “Đây là người nào mà cũng dường đến thế?” Bạt-xã-mặt tâu: “Trong thành Xá-vệ này, có mẹ của Trưởng giả chết. Đây là vật dụng của hộ.”
Vua lại hỏi: “Những voi, ngựa, xe cộ này dùng làm gì?” Đại thần đáp: “Năm trăm bà giáo dùng để đưa lên Diêm vương để mua mạng (bà mẹ).” Vua bật cười nói: “Đây là lời của người ngu. Mạng cũng khó bảo toàn, đâu có thể chế phục được. Như có người rơi vào miệng cá ma-kiệt, muốn mong ra khỏi, thật là khó được. Đây cũng như thế, đưa vào vua Diêm-la, muốn cầu ra thực khó thể được.”
“Năm trăm kỹ nữ này cũng dùng để mua mạng ba.” Vua lại từ chối từng phương tiện một. “Nếu điều này không được, sẽ dùng năm trăm trân báu mua ba.” “Đây cũng khó được.” “Nếu năm trăm trân báu này không được thì sẽ dùng năm trăm Ba-la-môn chủ thuyết pháp dùng chủ thuyết để giữ ba.” “Đây cũng khó được.” “Nếu năm trăm Ba-la-môn này không được thì sẽ đem năm trăm Sa-môn cao tài thuyết pháp để mua ba.” “Đây chẳng thể được.” “Nếu thuyết pháp không được, sẽ tự tập binh lính cũng chiến đấu lớn để giữ.” “Đây là cách của người ngu, đã rơi vào miệng cá ma-kiệt, trốn chẳng ra được.”
Ông nên biết, có ai sanh mà không chết đâu? Đây thực chẳng thể được. Chỉ Phật cũng dạy rằng: “Họ có sanh thì có tử, mạng cũng khó được.” Khi ấy, Bạt-xã-mặt quỳ tâu vua: “Thế nên Đại vương, chớ quá sâu lo. Tất cả chúng sanh đều trở về với cái chết.” Vua hỏi: “Cớ sao ta lại sâu lo?” Đại thần tâu: “Vua nên biết, hôm nay mẹ của Đại vương đã chết.”
Vua Ba-tư-náy nghe xong, thở dài tấm, chín cái, rồi bảo đại thần: “Lãnh thay! Như lời ông nói, ông hay biết dùng phương tiện khéo léo!” Rồi vua Ba-tư-náy trở vào thành bày các thứ hương hoa cũng dường vong mẫu. Cúng xong nhà vua liền lên xe đến chỗ Thế Tôn, đến nơi, cúi lạy rồi ngồi một bên.
Lời Dạy Trừ Sâu Lo Của Phật
Bấy giờ, Thế Tôn hỏi: “Đại vương! Cớ sao người lầm bụi đất?” Vua bạch Thế Tôn: “Mẹ con mạng chung, vừa đưa đến ngoài thành. Nay con đến Thế Tôn để hỏi lẽ do. Mẹ con lúc còn sống, thì trai tinh tấn, hăng tu pháp lý nhân, vừa đứng được trăm tuổi, hôm nay đã mạng chung, nên con đến chỗ Thế Tôn.”
Vua tiếp tục trình bày về những nỗ lực muốn cứu mẹ bằng voi, ngựa, xe cộ, vàng bạc, trân báu – tất cả đều không được. Thế Tôn bảo: “Này Đại vương, chớ sâu lo quá, tất cả chúng sanh đều trở về với cái chết. Tất cả pháp biến đổi, muốn cho không biến đổi, trên không có việc này.”
Thế Tôn dạy tiếp: “Đại vương nên biết, thân người như tuyết đương, rồi sẽ trở về tan hoại. Cũng như ngôi đất sẽ tan hoại không thể giữ lâu; cũng như sóng nắng huyền hóa, hư ngụy không thật; cũng như nắm tay không thể gạt con nít. Thế nên, Đại vương chớ ái sầu, trông cây thân này.”
Đại vương nên biết, có bốn điều rất sợ hãi sẽ đến với thân này, chẳng thể che chở, cũng chẳng thể lấy ngón ngủ, chủ thuật, dược thảo, phù thủ có thể khử trừ. Bốn điều đó là: “Giá làm bại hoại tuổi trẻ khiến không nhan sắc; bệnh làm bại hoại tất cả người không bệnh; chết làm bại hoại mạng căn; vật hữu thường trở về vô thường.”
“Đại vương, có bốn pháp này chẳng thể che chở, không phải dùng sức hàng phục được. Đại vương nên biết, vì như bốn phương có bốn nũi lớn, từ bốn phía đến ép chúng sanh, chẳng phải sức trừ đi được.”
Pháp “Trừ Sâu Lo” Chính Là Pháp Bình An
“Thế nên, Đại vương, đó chẳng phải là vật kiên cố, chẳng thể nương cây. Do vậy, Đại vương, nên lấy pháp trì vị, chớ dùng phi pháp. Đại vương cũng chẳng bao lâu sẽ đến biên sanh tử. Đại vương cũng nên biết, những người lấy pháp cai trị, khi thân hoại mạng chung, sanh lên cõi trời, chủ lý nhân. Nếu người dùng phi pháp cai trị, thân hoại mạng chung đưa trong địa ngục. Thế nên, Đại vương, hãy lấy pháp cai trị, chớ dùng phi pháp. Như thế, Đại vương, nên học điều này!”
Bấy giờ vua Ba-tư-náy bạch Phật: “Pháp này tên là gì? Sẽ vâng làm như thế nào?”
Thế Tôn dạy: “Pháp này gọi là pháp trừ sâu lo.”
Vua bạch Phật: “Thực vậy, bạch Thế Tôn. Sơ dư như vậy vì con nghe pháp này rồi, bao nhiêu sâu lo hôm nay đã trừ. Bạch Thế Tôn, việc nước bị bỏ bốn, nay con muốn trở về cung.”
Thế Tôn bảo: “Nên biết đứng thời.”
Vua Ba-tư-náy liền tự chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật và lui đi. Bấy giờ vua Ba-tư-náy nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng lệnh.
Lời Bàn: Ý Nghĩa Sâu Sắc Của Pháp Trừ Lo
Pháp thoái này cho thấy, mạng người mong manh, có sinh ắt có tử, không ai có thể đảo ngược quy trình tất yếu này. Kể cả bậc đại vương hùng mạnh, quyền uy tối đỉnh, thương kính mẹ hết lòng như vua Ba-tư-náy cũng đã chịu bất lực trước quy luật tử sinh.
Sở dĩ Thế Tôn không dạy vua Ba-tư-náy pháp cầu siêu cho mẹ vì bà đã đánh bật lúc không chết. Thực sự thì mẹ không chết, luôn luôn sống. Bộ thân này thì liên theo nghiệp thể thân khác nên làm gì có chết mà cầu siêu! Thành ra, khi đang sống trên đời, ta cầu nguyện cho người bình an. Khi họ bỏ thân này theo nghiệp thể sinh một nơi khác, ta vẫn tiếp tục mong cho họ bình an. Vì lẽ ấy mà Thế Tôn chỉ có dạy cầu an.
Để an vui, người con Phật hãng quán sát vô thường là đặc tính của thế gian. Trong vũ trụ này, chỉ có sự vô thường mới thực sự thường hằng. Nói cách khác là không hề có sự vĩnh cửu, thường hằng. Đây là tuệ giác lớn mà chúng sinh cần phải có để vượt ra khỏi khổ.
Khi người thân mất đi, điều này phù hợp với quy luật vô thường. Chúng ta sâu lo, đau khổ nhiều vì muốn nắm giữ điều không thể. Thế Tôn từng nhấn mạnh: “Tất cả pháp biến đổi, muốn cho không biến đổi, trên không có việc này.” Không chỉ người ở lại, người ra đi cũng rất cần tuệ giác vô thường soi sáng.
Chấp thủ thân ta (ngã), tài vật của ta (ngã sở) là nguồn gốc của đưa lạc. Thấy rõ vô thường mới xả buông, xả buông được thì sớm thắng hoa siêu thoát.
Mặt khác, khi đã chấp nhận sự thật vô thường của thế gian, người con Phật hãy tích cực tạo nghiệp lành để luôn được hiện đời an lành, đời sau cũng sinh cõi lành.
Thế Tôn dạy vua Ba-tư-náy thực hành Chính pháp và xa rời phi pháp để “Nay vui đời sau vui / Làm phước, hai đời vui” là vì vậy. Thành ra, pháp “trừ sâu lo” của Thế Tôn vừa có tác dụng cầu an lẫn cầu siêu.
Hiện nay, chúng ta thường khuyến khích thân nhân thực hành nhiều thiện pháp như bỏ thí, cúng dường để hồi hướng công đức cầu siêu cho người thân quá vãng. Nhưng chắc chắn việc vì cha mẹ làm thiện sẽ không bằng tự thân cha mẹ thực hành Chính pháp, biết “Tự mình thắp đuốc lên mà đi.”
Thế nên, khuyến khích cha mẹ hiện tiền bỏ ác làm lành, tu tập theo Chính pháp để luôn được an vui mới là chơn chính hiếu đạo và cũng là cách báo hiếu trên vẹn nhất.
(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm 26. Từ Ý Đoạn [1], VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.584)