Image default
Luận Giải & Nghiên Cứu Phật Học

Sám Hối Có Được Giải Tội?

Sám hối là một thực hành tu tập quan trọng và phổ biến trong Phật giáo. Sám hối là quán chiếu lại bản thân, xem mình đã phạm phải những lỗi lầm gì qua thân, khẩu và ý, từ đó thể hiện tâm ăn năn hối cải, và nguyện không để những hành vi sai trái như vậy xảy ra lại trong tương lai.

Sám hối cũng được cho là để “tự bày lỗi lầm của mình trước Phật, Bồ-tát, Sư trưởng hay đại chúng với mục đích mong được diệt tội”. Vậy sám hối có thật sự diệt được tội hay không? Và ai là người có thể “giải tội” cho mình? Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Nếu nói “Tâm tựng tầm khởi tưởng tâm / Tâm nhược diệt thời tội diệc vong”, thì tội có thể diệt trừ sau khi sám hối và tâm được thanh tịnh. Nhưng trong một số bản kinh thuộc hệ văn học Nikaya, sám hối chỉ có thể là làm giảm nhẹ tội đã tạo, mà tội đó không được “diệt trừ” hoàn toàn, cho dù người phạm tội đã sám hối, không chỉ bằng sự ăn năn, nhận tội, mà bằng cả sự tu tập chuyên hóa thân tâm của mình.

Bài viết này xem xét một vài trường hợp được đề cập đến trong Kinh tạng Pāli, qua đó có thể phần nào cho thấy một vài khía cạnh của vấn đề này.

Trường Hợp Tỳ-kheo Bhaddāli

Trường hợp của Tỳ-kheo Bhaddāli được đề cập trong Trung bộ, kinh Bhaddāli, bản kinh được đặt theo tên của vị Tỳ-kheo này. Bản kinh này thuật lại việc Tỳ-kheo Bhaddāli, cảm thấy ăn năn và hối tiếc, do không thể thực hành được một học giới mà Đức Phật đã chỉ định. Học giới ở đây là “ăn chỉ ngồi một lần” (ekasanabhojana), mà nếu ăn như vậy sẽ “ít bệnh, ít nảo, nhẹ nhàng, có sức và lạc trú”. Nhận thấy mình có lỗi, không thực hành trên vận học giới được chỉ định, Tỳ-kheo Bhaddāli đã đến gặp Đức Phật để xin sám hối.

Trong đoạn kinh này chúng ta thấy rằng, việc phát lộ sám hối diễn tiến qua những bước tuần tự sau: thấy được lỗi lầm của mình, ăn năn về lỗi lầm đó, sám hối lỗi lầm, và ngăn chặn lỗi lầm xảy ra lại trong tương lai. Ở đây, Tỳ-kheo Bhaddāli thấy mình có lỗi vì không thực hành trên vận học giới được chỉ định, sau đó được chỉ Tỳ-kheo khác khuyên báo nên tự niệm về điều đó, thấy ăn năn hối lỗi và tìm đến Đức Phật để sám hối, Đức Phật chấp nhận sự sám hối đó và khuyên báo phải “phòng hộ trong tương lai”.

Sám hối trong Phật giáo là quá trình xin lỗi và tâm ăn năn chân thànhSám hối trong Phật giáo là quá trình xin lỗi và tâm ăn năn chân thành

Bản kinh này không cho ta thấy việc sám hối có thể diệt trừ được tội đã phạm hay không, hay nói cách khác là lỗi của một người có được miễn trừ sau khi sám hối hay không, mặc dù bản kinh cho biết rằng, khi một người phạm tội nhưng nên trách tránh tội của mình, không chịu lắng nghe, lại thể hiện sự bất mãn, sân hận… thì “chủ có giải tội ấy một cách mau chóng”.

Còn một người phạm lỗi, nhưng nhận lỗi, không thể hiện sự bất mãn hay sân hận đối với những người chỉ ra lỗi lầm cho mình, thì “hãy giải tội ấy một cách mau chóng”. Tuy nhiên ở đây ta có thể hiểu, “giải tội” ở trong ngữ cảnh này không có nghĩa là khiến cho tội đó được diệt trừ, mà có nghĩa là chấp nhận sự sám hối của người phạm lỗi, cho người phạm lỗi tiếp tục sống trong cộng đồng của mình, và lỗi mà vị ấy đã phạm sẽ không được nhắc trở lại. Nhưng bản thân người phạm lỗi cũng sẽ không phạm phải lỗi này nữa trong tương lai.

Một khía cạnh quan trọng khác của việc “giải tội” ở trong bản kinh này là để cho người phạm lỗi có cơ hội “sửa sai” và để người này không thui chết niềm tin, tức rằng để người này không đoạn diệt những phẩm tính tốt còn lại nơi bản thân mà họ có thể phát triển. Sự “giải tội” ở đây như thể hiện lòng từ bi của cá nhân hay cộng đồng mà người phạm lỗi đối diện “phát lộ sám hối”. Ở đây Đức Phật nói rằng, “Nếu chúng ta thường hay kết tội Tỳ-kheo này, thời chút ít là lòng tin, chút ít là lòng thương của vị ấy sẽ đi đến đoạn diệt. Vậy chúng ta hãy đừng để cho chút ít lòng tin, chút ít lòng thương của vị ấy đoạn diệt”. Và Người đưa ra sự so sánh rằng giống như một người chỉ còn lại một mắt, những người thân của vị ấy báo về con mắt còn lại đó và nghĩ rằng không để cho con mắt còn lại này bị hủy diệt.

Nếu con mắt còn lại bị hủy diệt đi, hiển nhiên, người này sẽ trở thành một người mù lòa, không còn nhìn thấy thứ gì cả. Nếu để những thiện căn còn lại nơi một người phạm lỗi diệt mất ngay, người này sẽ trở nên tăm tối, mất đi niềm tin vào việc có thể trở lại sự thanh sạch và có thể thăng tiến trong lộ trình phát triển tâm linh.

Trường Hợp Tôn Giả Pukkusati

Trường hợp của Tôn giả Pukkusati được đề cập trong kinh Giới phân biệt (Dhātuvibhanga sutta). Vị Tôn giả này vì ngưỡng mộ Đức Phật và giáo pháp của Ngài nên đã từ bỏ gia đình, sống đời du sĩ và thực hành theo pháp Phật. Tuy vậy ông chưa hề một lần gặp Phật và không thể hình dung Ngài là người như thế nào. Tình cờ một lần nghỉ, trong một đêm ở tại trú xứ của vị thợ gỗ gồm tên là Bhaggava, Pukkusati đã gặp được Đức Phật, nhưng vì không nhận ra Ngài nên vị này gọi Đức Phật là Hiền giả. Đức Phật sau đó đã thuyết giảng cho Pukkusati.

Khi nghe xong những gì được giảng dạy, Tôn giả nhận ra rằng người đối diện với mình không ai khác mà chính là Đức Tháy Tôn, người mà ông đã “xuất gia vì cứu” và nhận là làm Bác Đạo sư. Khi ấy Tôn giả Pukkusati nói rằng, do vì “si mê và không khéo léo” ông đã xưng hô với Tháy Tôn là Hiền giả, điều ông nghĩ là một lỗi lầm, và vì thế ông mong Tháy Tôn nhận lỗi lầm làm ấy như một lỗi lầm.

Khi ấy Đức Phật nói rằng “…nếu Ông thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm, và như pháp phát lộ, thời Ta chấp nhận lỗi lầm ấy cho Ông. Vì rằng, nay Tỳ-kheo, đây là sự tăng ích trong giới luật của bậc Thánh, khi nào một ai thấy lỗi lầm là một lỗi lầm, như pháp phát lộ, để ngăn ngừa trong tương lai”. Đoạn văn này là giống với đoạn văn ở trong kinh Bhaddāli, tuy rằng trường hợp phạm lỗi của Pukkusati khác với Bhaddāli. Trong khi một người phạm lỗi vì không thể thực hiện theo học giới đã được Tăng chúng chấp nhận thực hiện, còn một người phạm lỗi chỉ vì vô ý không nhận ra người đối diện với mình là ai.

Trong trường hợp của Pukkusati, ông phạm “lỗi lầm” chỉ vì sự nhầm lẫn; và việc “nhận lỗi lầm” của ông có thể xem như một sự “xin lỗi” hơn là một sự “sám hối”. Tuy nhiên, dù mức độ lỗi lầm như thế nào, việc nhận ra nó và sám hối, đều có sự “tăng ích” trong cuộc sống cũng như trong tu tập. Và thêm nữa, ở trong bản kinh này, Pukkusati phạm “lỗi lầm” với chính Đức Phật, và việc “nhận lỗi lầm cho ông” có thể được xem như việc Ngài bỏ qua sự nhầm lẫn này.

Trường Hợp Vua Ajātasattu

Vua Ajātasattu (A Xà Thế) được nhắc đến khá nhiều trong kinh sách Phật giáo. Việc ông cấu kết với Đề-bà-đạt-đa để làm những điều bất thiện, cũng như việc ông giết hại cha của mình để soán ngôi đã trở thành những ví dụ điển hình về mối liên hệ giữa lòng tham quyền lực và cái ác. Nhưng câu chuyện về vua Ajātasattu cũng phản ánh một khía cạnh khác, rằng sự cải tổ quy chính, sự ăn năn hối lỗi có thể khiến người ta trở nên hiền thiện hơn, và chính lòng ăn năn hối lỗi sẽ giúp người ta tiến bộ hơn trong đời sống xã hội cũng như trong đường đạo.

Câu chuyện về Ajātasattu đến gặp Đức Phật và thể hiện lòng ăn năn vì đã giết cha của mình được đề cập trong kinh Sa-môn quả. Trước hết, cũng như ở trong kinh Bhaddāli, việc sám hối bắt đầu từ việc nhận ra lỗi của mình. Trong trường hợp của vua Ajātasattu, ông đã nhận thấy việc sát hại cha của ông là một trọng tội. Khi ông thấy đó là một trọng tội được gây nên bởi lòng tham quyền lực và vô minh, ông muốn thú nhận tội ấy. Và người mà ông tin tưởng và có thể đối diện sám hối là Đức Phật.

Đoạn kinh trình bày về việc nhận lỗi của vua Ajātasattu như sau: “Bạch Tháy Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, con đã hại mạng phụ vương con, một vị vua chơn chính, để đoạt vương quyền. Mong Tháy Tôn nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn chặn về tương lai”.

Và khi vua Ajātasattu ăn năn nhận lỗi, Đức Phật đã nói như sau: “Đại vương, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Đại vương đã hại mạng phụ vương, một vị vua chơn chính, để đoạt vương quyền. Vì Đại vương đã thấy tội ấy là một tội, đã thú tội đúng với Chính pháp, Ta nhận tội ấy cho Đại vương. Đó là một sự tiến bộ, nay Đại vương, trong luật pháp của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, thú tội đúng với Chính pháp, và ngăn chặn ở tương lai”.

Như vậy, sự nhận tội là một sự tiến bộ và tội ấy phải không được phạm lại ở trong tương lai. Nhưng ở trong đoạn kinh này, Đức Phật “nhận tội” của vua Ajātasattu, không có nghĩa rằng Ngài đã “xá” tội cho ông. Mà ở đây chỉ có nghĩa rằng, Ngài chấp nhận sự sám hối đó và việc nhận lỗi và sám hối như vậy là phù hợp với Chính pháp, và sự nhận lỗi như vậy cũng sẽ góp phần giáo dục tâm lý của người phạm lỗi.

Về mặt nhân quả, nhân của tội ấy không được diệt trừ hoàn toàn sau khi sám hối và người gieo nhân phải gặt quả, nhưng tất nhiên ở đây nhân quả không được trình bày theo kiểu: trồng dưa hái dưa, gieo lúa gặt lúa; ông đã giết cha để cướp ngôi thì con ông sẽ thực hiện điều tương tự như vậy đối với ông hoặc trong đời này hoặc trong kiếp sau. Mà nhân quả ở đây được diễn tả qua việc, bởi do vì đã gây nên tội giết cha, cho dù đã ăn năn sám hối, nghiệp nhân đó đã có những tác động tiêu cực đến việc phát triển trong đường đạo của ông.

Điều này được trình bày qua đoạn kinh: “Nay các Tỳ-kheo, tâm vua ấy rất ăn năn, nay các Tỳ-kheo, tâm vua ấy rất hối lỗi. Nếu vua ấy không hại mạng vua cha, một vị vua rất chơn chính, thì tại ngay chỗ này, vua ấy đã chứng được pháp nhãn, không trần cấu, không ô uế”. Như vậy, nếu Ajātasattu không phạm tội giết cha, thì khi nghe Đức Phật thuyết giảng về các “Sa-môn quả” và với sự chân thành ngay nơi việc phát nguyện quy y Tam bảo, ông đã “chứng được pháp nhãn”, nhưng do vì phạm tội giết cha, ông đã không chứng được điều ấy. Tuy nhiên, trong kinh Sa-môn quả thuộc Trường A-hàm, sau khi Ajātasattu ra về, Đức Phật đã nói với các Tỳ-kheo rằng: “Vua A Xà Thế nay, tội lỗi đã vơi bớt, đã nhẹ trọng tội. Nếu A Xà Thế không giết cha, thì ngay tại chỗ này đã được con mắt thanh tịnh thấy pháp. Nhưng vua A Xà Thế nay đã hối lỗi, tội lỗi đã vơi bớt, đã nhẹ trọng tội nhờ ăn năn sám hối và quy y Tam bảo”!

Như vậy kính Sa-môn quả thuộc Trường A-hàm xác định rằng, vị vua này đã giảm bớt tội lỗi, đã nhẹ trọng tội nhờ ăn năn sám hối và quy y Tam bảo!

Trường Hợp Tôn Giả Angulimāla

Ở đây ta xét thêm một trường hợp khác để hiểu rõ hơn vấn đề này, trường hợp của Tôn giả Angulimāla, được đề cập đến trong kinh Angulimāla, dù rằng bản kinh này không đề cập trực tiếp đến việc Angulimāla nhận lỗi với Đức Phật như những trường hợp ở trên. Angulimāla trước đó là một tên cướp giết người khét tiếng, được cho là “bàn tay vậy máu bẩn, sát hại, bạo tàn, không có lòng từ bi mà đối với chúng sanh”. Nhưng sau khi gặp và xuất gia theo Phật, ông đã tu tập tinh chuyên và chứng được Thánh quả. Nhưng dù chứng được Thánh quả A-la-hán, nghiệp nhân ông tạo trong đời hiện tại cũng đã trở thành quả.

Tuy nhiên, nghiệp quả mà ông thể nhận nhẹ hơn rất nhiều so với nghiệp nhân ông đã tạo. Điều này xảy ra nhờ bởi sự sám hối chân thành của ông, cũng như nhờ sự tu tập chuyên hóa, và chứng được Thánh quả của ông. Bản kinh này thuật rằng, trong một lần đi khất thực, Tôn giả Angulimāla bị “lỗ đầu, chảy máu, bị bệnh bất bại, ngoài y bị rách” do một người nào đó vô tình ném đất đá gây gặp vào ông. Và khi ông đến gặp Đức Phật để thuật lại sự việc, Đức Phật nói rằng: “Hãy kham nhẫn, nay Bā-la-môn! Hãy kham nhẫn, nay Bā-la-môn! Ông đang gặt hái ngay trong hiện tại quả báo của nghiệp mà ông đáng lẽ ông phải chịu nổi ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm”.

Như vậy, nếu không sám hối, tu tập và chứng quả, vị Tôn giả này sẽ phải đưa vào địa ngục trong một khoảng thời gian là lâu dài, nhưng nhờ sám hối và tu tập, tội nghiệp của ông được chuyển thành nhẹ hơn, và ông cũng phải nhận lấy quả báo đó.

Nhưng ở đây cũng cần nói thêm rằng, nhân tố chính giúp cho Angulimāla giảm bớt việc thể nhận nghiệp quả không phải là việc “nhận tội” như một sự sám hối, mà chính nhờ vào việc tu tập chuyên hóa của ông. Tuy nhiên, việc nhận ra tội và sám hối lại chính là bước tiền khởi để ông bước vào Thánh đạo.

Kết Luận

Từ những trường hợp được xem xét ở trên, có thể nhận thấy rằng sám hối không phải là một sự xá tội hoàn toàn, mà là một sự thừa nhận và chuyển hóa. Sám hối thực sự chân thành giúp chuyển hóa tâm hồn và tinh thần của con người, mở ra con đường phát triển tâm linh. Khi một người nhận ra lỗi lầm, ăn năn và quyết tâm không lặp lại, người ấy đã bắt đầu bước trên con đường tu tập.

Trong Phật giáo, không có ai có quyền lực “xá tội” hay “giải tội” cho người khác một cách tuyệt đối. Thay vào đó, Phật và những người tu tập chân chánh chỉ chấp nhận sự sám hối chân thành, khuyến khích người phạm lỗi tiếp tục phát triển những phẩm tính tốt, và giúp người đó không bị lạc lõng trong con đường tu tập vì sự tuyệt vọng. Sự “giải tội” ở đây là sự chấp nhận sự sám hối, và từ đó tạo cơ hội cho người phạm lỗi trở nên hiền lành hơn và tiến bộ hơn trên con đường Phật pháp. Qua đó, sám hối trở thành một động lực mạnh mẽ để con người hướng tâm về những điều thiện lành, xây dựng một cuộc sống thanh tịnh và đạt đến những chứng quả cao hơn trong tu tập.

Related posts

Thiền Sư Tông Diễn: Hành Trình Tìm Mẹ và Báo Hiếu Cứu Độc Lập Sinh Tử

Administrator

Những Sai Lầm Phổ Biến Của Giới Trí Thức Khi Nghiên Cứu Phật Giáo

Administrator

Tôn Giả Ba Tu Ban Đầu: Hành Trình Tu Tập Và Truyền Thiền Của Vị Thánh Nhân

Administrator