Phẫn nộ (kodha) là hình thái bùng vỡ của tâm giận dữ bắt mã hay lòng sân hận bức phiền. Nó là sự phản ứng thô thiển của tâm thức bị đốn nên trong trạng thái giận dữ bực bội bởi tác động của các hành vi không thích ý hoặc cảnh ngộ không thân thiện.
Chẳng hạn, điều gì mà mình không ưa thích mà cứ phải “chạm trán” liên tục thì tâm bất mãn bùng phát biến thành phẫn nộ, hoặc trong trường hợp thường xuyên bị kẻ khác chỉ trích tấn công với lời lẽ gay gắt thì sự bức phiền dần nên trong lòng trao dâng chuyển thành cơn phẫn nộ. Phẫn nộ, do đó, là hệ quả của tâm giận dữ bất mãn bị kích động. Nó là hiện tượng duyên sinh, bộc phát chủ yếu do sự tác động của các yếu tố không thân thiện và môi trường không lành mạnh. Nó là sự phản ứng u tối và báo loạn của tâm sân hận biểu lộ ra bên ngoài bằng lời nói và hành động thô bạo gắn liền với các hậu quả khó lường.
Kinh Phật kể câu chuyện như vậy:
“Thuở xưa, tại thành Savatthi, có nữ gia chủ tên là Vedehika. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được khơi lên về nữ gia chủ Vedehika: “Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục, nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận, nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa”. Nữ gia chủ Vedehika có người nữ tỳ tên là Kali, người này khéo tay, siêng năng và làm việc căn thận chu toàn. Rồi nữ tỳ Kali khơi lên ý nghĩ: “Chủ của ta được tiếng đồn tốt đẹp và hiền thục, nhu thuận, ôn hòa. Không biết nữ chủ của ta có nội sân mà không tỏ lộ hay không có nội sân, hay vì công việc ta làm căn thận chu toàn nên nữ chủ ta có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử nữ chủ của ta!” Rồi nữ tỳ Kali sáng ngày sau dậy thất trễ.
Nữ gia chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
– Này Kali
– Thưa nữ chủ, có việc gì?
– Sao hôm nay người dậy trễ vậy?
– Thưa nữ chủ, có việc gì đâu?
– Thật sự không có việc gì ư? Ác nữ tỳ kia, hôm nay người dậy trễ!
Và nữ chủ nhân phẫn nộ, bất mãn, trừng mắt.
Rồi nữ tỳ Kali suy nghĩ: “Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm căn thận chu toàn, nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!”. Rồi nữ tỳ Kali sáng hôm sau lại dậy trễ hơn nữ. Nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
– Này Kali
– Thưa Nữ chủ, có việc gì?
– Sao hôm nay, người dậy trễ vậy?
– Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
– Thật sự không có việc gì ư? Ác nữ tỳ kia, hôm nay người dậy trễ!
Và nữ chủ nhân phẫn nộ, bất mãn, thốt lên những lời bất mãn.
Rồi nữ tỳ Kali suy nghĩ: “Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm căn thận chu toàn nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta”. Rồi nữ tỳ Kali sáng hôm sau lại dậy trễ hơn nữa. Nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:
– Này Kali
– Thưa Nữ chủ, có việc gì?
– Sao hôm nay người dậy trễ vậy?
– Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?
– Thật sự không có việc gì ư? Ác nữ tỳ kia, hôm nay người dậy trễ!
Rồi phẫn nộ, không hoan hỷ, nâng cái then gái cửa, đánh một cú trên đầu nữ tỳ khiến nữ tỳ bị đầu chảy máu.
Tâm phẫn nộ bộc phát dữ dội khi bị kích động liên tiếp gây hậu quả khó lường
Nữ tỳ Kali, với đầu bị máu chảy, liền đi kêu lỗ với các nhà làng giống: “Hãy xem việc làm của nữ chủ hiền thục! Hãy xem việc làm của nữ chủ nhu thuận! Hãy xem việc làm của nữ chủ ôn hòa! Sao nữ chủ nói với nữ tỳ độc nhất: “Hôm nay người dậy trễ”, rồi phẫn nộ, bất mãn, nâng cái then gái cửa đánh tôi một cú trên đầu khiến tôi bị đầu!”
Một thời gian sau, tiếng đồn xấu sau đây được khơi lên về nữ chủ Vedehika: “Nữ chủ Vedehika là độc ác! Nữ chủ Vedehika là không nhu thuận! Nữ chủ Vedehika là không ôn hòa!” (1)
Hậu Quả Tai Hại Của Phẫn Nộ
Câu chuyện lưu ý với chúng ta về hậu quả tai hại của tâm phẫn nộ bất mãn bùng phát do thái độ “chặt giáp” quá đáng của cô người hầu Kali. Nữ gia chủ Vedehika không phải là bậc Thánh mà chỉ do duyên may được sống trong môi trường khá thoải mái thuận ý nên tâm sân hận bức phiền không có điều kiện dậy khởi và tăng trưởng. Cô được tiếng nhu hòa và hiền thục vì ít hoặc không tỏ lộ thái độ phẫn nộ nhưng sự sân hận vẫn hiện hữu tầng ẩn ở trong tâm thức.
Cô bị người hầu “chặt giáp” quá đá nên tâm sân hận bùng phát biến thành phẫn nộ lấy mất tiếng thơm của cô. Cô mất tiếng thơm và người hầu thì chịu tai hỏa vỡ đầu chảy máu chỉ vì không kìm nên được lòng giận dữ bức phiền, một kết quả đầy phiền toái khó đau cho cả hai mà kinh Phật báo là “do bị sân chinh phục, tâm mất tự chủ, trở thành mù lòa, (người ấy) nghĩ đến hại mình, hại người, hại cả hai; không như thật rõ biết lợi mình, lợi người, lợi cả hai” (2).
Câu chuyện cũng gián tiếp gợi ý với chúng ta rằng trừ những bậc giác ngộ, không ai có thể biết được tâm tự của người khác vẫn hành thế nào và ẩn chứa những gì. Vì vậy mà không nên khích động tâm sân hận của người khác và bất cứ là lý do gì. Kinh Pháp Cú nhắc nhở mọi người:
“Chủ nói lời ác độc,
Nói ác, bị nói lại,
Khó thay lời phẫn nộ,
Ðao trường phải chạm người” (3)
Nguyên Nhân Sinh Ra Phẫn Nộ
Bởi phẫn nộ đem lại và để lại hậu quả tai hại khó đau cho mình và cho người nên Đức Phật khuyên nhắc mọi người chớ sinh tâm phẫn nộ, mặt khác chớ làm cho người khác sinh tâm phẫn nộ. Chớ sinh tâm phẫn nộ nghĩa là đừng vì bức phiền giận dữ trong lòng mà nói hay làm những điều độc ác, phải biết chế ngự và điều phục tâm sân hận, không để cho nó tự do hoạt động hay bị kích động mà biến thành lời nói hay việc làm xấu ác.
Tâm giận dữ cần được nhận diện và kiểm soát trước khi bộc phát thành phẫn nộ
Điều này đồng nghĩa với việc tập nhận ra tâm sân hận và hậu quả nguy hại của sân hận để nỗ lực khắc phục và loại bỏ dần tâm sân hận. Tất nhiên, không phải cùng lúc mà làm được điều này, nhưng với một sự nỗ lực kiên trì trong việc nhận diện tâm sân hận và hậu quả xấu ác của nó thì có thể giúp khắc phục và loại bỏ dần tâm sân hận. Cũng không ai khác chỉ chính mỗi người phải nhận ra mỗi lửa giận dữ nguy hại ở ngay trong tâm mình để nỗ lực chế ngự và diệt trừ. Phải dùng tình thương và tâm từ bi để khắc chế và loại trừ sân hận.
Một khi tâm sân hận được chế ngự đi đến tiêu trừ thì phẫn nộ không còn cơ hội dậy khởi. Chớ làm cho người khác sinh tâm phẫn nộ tức là tránh những lời nói hay việc làm ác độc, không thân thiện khiến gây kích động đến lòng sân hận của người khác hay khiến tâm giận dữ bức phiền của người ấy có cơ hội tăng trưởng và bộc phát.
Phẫn nộ là hệ quả phát tán của tâm sân hận bao lâu tâm ấy bị kích động đạt đến cực độ. Dự nhiên, không ai có thể dập tắt mỗi lửa sân hận chảy ngầm trong lòng người khác, nhưng người ta có thể hạn chế hậu quả của tâm sân hận giận dữ bằng cách tránh kích động đến nó. Vậy nên người nào biết điều phục tâm mình thoát khỏi sân hận, không còn phẫn nộ, tức là hạn chế được sự phẫn nộ phát sinh từ người khác, bởi vì người ấy không nói hay làm điều gì khiến người khác giận dữ đi đến phẫn nộ.
Người ấy được xem là có đức kham nhẫn lớn, vì “không nhiếc mắng lại kẻ đã nhiếc mắng mình, không sân hận lại kẻ đã sân hận, không gây lộn lại kẻ đã gây lộn với mình” (4). Đức Phật gọi một người như vậy là “tìm lợi ích cho mình và cho người”, nghĩa là:
Những ai bị phẻ bằng
Không phẻ bằng chống lại
Người ấy đủ thắng trận,
Thắng cho mình, cho người.
Vì ấy tìm lợi ích,
Cho cả mình và người,
Và kẻ đã phẻ bằng,
Tự hiểu, lặng người dần (5).
Đối Phó Với Tâm Sân Hận
Tóm lại, phẫn nộ phát sinh do tâm sân hận bức phiền bị kích động và hậu quả của nó xấu ác khó lường. Nó là hiện tượng do duyên (sự tác động) phát sinh nên hạn chế phẫn nộ là điều khả dĩ. Thực tế là không ai biết rõ tâm người khác vẫn hành thế nào và sự sân hận là có hay không, mạnh hay yếu để lúc nào đó sẽ bùng phát biến thành cơn phẫn nộ.
Đức Phật nói cho chúng ta biết do tập khí nên chúng sinh có căn tính bất động. Có hạng người dễ phẫn nộ, nảy háy nhiều, tuy bị nói ít, liền nóng, nói giận, nói sân, sung sộ, gây hận, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Nhưng cũng có hạng người không phẫn nộ, nảy háy không nhiều, tuy bị nói nhiều, nhưng không có nóng nảy, không nóng nằng, không có nội sân, sung sộ, gây hận, không biểu lộ phẫn nộ, không sân hận, không bất mãn (6). Vì thế, trong mọi trường hợp, cách hay nhất để hạn chế hậu quả của tâm sân hận phẫn nộ là mọi người hãy dùng lời lẽ ôn hòa tử ái và hành động thân thiện để đối xử với nhau, tuyệt đối tránh tình trạng “thêm dầu vào lửa”, thậm chí đừng cố thử đo lòng người khác theo cách “chặt giáp quá đá” như trường hợp cô người hầu dạ dỏ Kali.
Chú thích:
1. Kinh Ví dụ cái cửa, Trung Bộ
2. Kinh Channa, Tăng Chi Bộ
3. Kinh Pháp Cú, kệ số 133
4. Kinh Kham nhẫn, Tăng Chi Bộ
5. Kinh Phẻ bằng, Tương Ưng Bộ
6. Kinh Malika, Tăng Chi Bộ
Tình Thương Và Từ Bi Trong Tu Học Phật Pháp
Để vượt qua sân hận và phẫn nộ, tu học viên cần xây dựng tâm từ bi như chiếc khiên bảo vệ tâm khỏi những ảnh hưởng tiêu cực. Tình thương vô điều kiện dành cho tất cả chúng sinh, kể cả những người từng khiến chúng ta bức phiền, chính là antidote (thuốc giải) hiệu quả nhất. Khi tâm được nuôi dưỡng bởi tình thương và từ bi thì những mầm mống của sân hận sẽ dần teo tụi và mất đi.
Trong tu tập, người học Phật nên phát tâm bồ đề, hướng tất cả sự nỗ lực vào việc giác ngộ chính mình trước, rồi giúp người khác. Chỉ khi tâm mình được xoa dịu bởi tuệ giác thì mới có khả năng thực sự giúp đỡ người khác. Như vậy, việc khắc phục tâm sân hận, phẫn nộ không chỉ là cho mình khoác những vẻ hiền lành giả tạo, mà là thực sự tu tập đi vào bản chất tâm để nó trở nên trong sạch, nhân từ và trí tuệ.
Mỗi lần tâm muốn phát biểu những lời nói ác độc hoặc muốn thực hiện những hành động gây tổn thương, hãy dừng lại một giây để nhìn lại chính mình, nhận ra sự bực phiền, giận dữ đang ẩn nấp trong tâm. Hãy nhìn vào những hậu quả khó lường mà tâm phẫn nộ sẽ mang lại cho chúng ta và cho người khác. Cứ như vậy mà tu tập, nhất định chúng ta sẽ dần dần vượt qua được tâm sân hận và đạt được sự an lạc thực sự.