Chúng ta đây, mỗi người đều có sẵn cái gốc là Phật, cái quả Phật. Vậy chúng ta hãy tập ăn ở cho lành, làm việc phước thiện, siêng năng độc tụng kinh sách, và chúng ta hãy thường tưởng Phật, chiêm nghiệm, suy nghĩ, tham thiền để mau một thông cái quả Phật ấy nơi ta. Rồi đến một ngày nào, một đời nào, chúng ta sẽ được toàn giác, như thầy của chúng ta là Đức Thích-ca Mâu-ni chư chăng không.
Những người học Phật, tu Phật thường niệm: “Nam mô Bốn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật”. Đó tức Phật Thích-ca là Bốn Sư, là thầy gốc của chúng ta. Ngài giáo hóa cho ta thành tựu bằng pháp môn của ngài. Những pháp môn ấy trước thì ngài thuyết, sau lại có ghi trong kinh điển, gồm chung có ba tạng là Kinh, Luật và Luận, thường gọi là Tam tạng. Những bậc tu hành xuất gia, tỳ-kheo và tỳ-kheo ni thường tự nhận mình là Thích tư. Tức các bậc ấy là con Phật về phần tinh thần, pháp giáo. Và những ai dù tu xuất gia hay tu tại gia mà thành tâm học Phật đều được nhận mình là Thích tư, Phật tử cả. Đức Thích-ca là thầy của ta, cha là nh của ta. Vì tôn kính ngài, cho nên các Phật tử đều xưng ngài là Đức Bốn Sư, Đức Phật tổ, Đức Tự phụ. Ngài giảng thuyết, thành Phật và dìu dắt chúng sanh ở cõi Ấn Độ Đông, nơi miền ấn độ trên hai ngàn năm năm rồi. Trên quyển “Truyện Phật Thích-ca” của tôi soạn có biên rõ sự tích của ngài. Ngài là Phật hiện tại, nơi chỉ chứ Phật quá khứ để trao Pháp Phật quả Bộ-Đề cho chúng sanh. Trong khi chưa có Đức Phật sau, Phật vị lai, ngài là thầy của chúng ta, tuy ngài đã tịch rồi. Ngài ở trong một cảnh giới khác đã đánh, song sức linh của ngài thường ứng hộ những người tu Phật. Và pháp giáo của ngài để lại cho giáo hội Tăng già mà ngài sáng lập ra và truyền lại, cũng đều có thể tiếp độ chúng sanh. Ngôi Tam bảo là Phật, Pháp, Tăng bao giờ cũng có trụ ở cảnh trần mà họ trợ kế tu trì.
Thầy của chúng ta, Phật Thích Ca
Nhiều như tu học có mặt hành thường được thấy chân thân của Đức Thích-ca. Hoặc là họ thấy Phật hiện ra trong khi họ ngủ; hoặc là họ thấy Phật trong cơn niệm tưởng, tham thiền. Tu đến thành Phật Thế Tôn, Phật Như Lai, thật không phải dễ. Biết bao công hạnh, biết bao phước đức ban bố cho đời! Đức Thích-ca đắc nhập quả Phật trong vô lượng vô biên kiếp rồi, song ngài còn đi hành đạo Bộ-tát, cứu nạn cứu khổ cho chúng sanh. Mãi cho đến khi lên bậc Như Lai, ngài còn phân ráng ngài chưa dứt hành đạo Bộ-tát, tức là ngài còn lượt thuyền Bát-nhã trên biển mê mù cứu vớt chúng sanh! Biết bao đời, ngài là m Bộ-tát vì chúng sanh. Chắng quản lúc nào, cảnh nào, ngài váy tay ra mà giải thoát, độ đời. Sanh ra trong hàng thứ cảm, tự mình đẩy xuống dưới miền địa ngục, dẫn thân vào loài ma quỷ đói khát, ngài cam phần cực nhục, quyết cứu vớt những chúng sanh sa địa! Làm thân Đàn bà con gái, chịu sự đơn đau của phái yếu, sanh ra trong cung cấm, hoặc trong cửa quyền, cũng sanh ra trong nhà thường dân lao động, mà làm con gái và thề thiếp của người. Ngài đã tường giáo hóa đạo lãnh cho hàng phụ nữ và các hàng người quanh mình. Cũng có khi ngài vì phương tiện mà làm thần để độ chỉ thần và làm tiên để độ chỉ tiên. Sự từ bi của ngài không thể lượng, công đức của ngài vô tận. Nên ở ngôi Phật Như Lai, ngài được tất cả chúng sanh sùng bái, tôn kính.
Chúng ta đây, vì như chúng ta có thể thành Phật, được lên bậc Như Lai, thì cũng vì chúng sanh, để giáo hóa, độ tận chúng sanh vậy. Kẻ nào mong thành Phật cho mình thì không bao giờ thành được. Mà Phật giáo hóa chúng sanh những hàng nào? Tất cả các hàng. Trong đời ngài, những khi thuyết pháp các nơi trong cõi ấn độ, các hàng tiên hóa đều tự lại nghe. Chỉ Đại Bộ-tát ở các cõi thế giới du hành đến; chỉ tiên, chỉ thánh, chỉ thần từ các tầng trời hiện xuống; cho đến các loài yêu ma, quỷ mị cũng đều rủ nhau đến chung chặn với loài người mà hoan nghênh, cùng đường, thắp trông Phật, vì ngài nói rất hay, dạy rất đúng. Người ta phân các bậc chúng sanh nghe Pháp ra làm bốn hàng, gọi chung là Tứ chúng. Đó là: tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di. Tỳ-kheo, tỳ-kheo ni là chỉ những vị xuất gia Đàn ông với Đàn bà. Còn ưu-bà-tắc, ưu-bà-di là những người cơ sở Đàn ông với Đàn bà, tức là những hàng chưa thủ đủ giới cụ tục. Đức Phật tùy dung phương tiện mà dạy cho tứ chúng, dạy cho họ tấn hóa lên đường huệ. Lần khi ngài giảng một bài mà hai hàng xuất gia và tại gia đều được nhớ hết. Lần lần như vậy, những người hiểu đạo và hành trì lần lượt chứng được các quả A-la-hán, Duyên giác, Bộ-tát.
Hàng tại gia cơ sở tinh tấn tu học cũng có thể lần lượt chứng các quả Tu-Đà-hoàn, Tư-Đà-hàm, A-na-hàm, là những thành quả trước quả vị A-la-hán. Cũng có những vị cơ sở chứng quả Duyên giác và quả vị Bộ-tát nữa. Tại gia cơ sở làm người là Bộ-tát giảng thuyết chư chắng không. Giả như vua Tần-bà-sa-la họ trợ ngôi Tam bảo, ông nhà giàu Tu-Đạt, hiểu là Cấp Cô Độc Đắc Độ đặng ra lập tinh xá và hãng cung cấp cho Phật với giáo hội Tăng già; lại như ông Duy-ma-cặt tuy ở địa vị cơ sở mà đạo hành và trí huệ rất cao, tôi biên luận là m cho Đức Văn-thù Đại trí pháp phải kính phục.
Với hàng xuất gia, Phật khuyên tinh tấn giải thoát mà đắt Niết-bàn. Như vậy, sống một cách thanh tịnh, ở theo giới hành và năng tham thiền cho thoát khỏi cảnh trần. Với hàng tại gia, Phật khuyên cùng đường chỉ Tăng có đạo hành, niệm tưởng Phật, giữ lễ phép với cha mẹ, chồng vợ, thầy chủ, anh em, bè bạn. Như vậy thì được công đức dành để về các đời sau, chắp áy sẽ hưởng sự giàu sang, tước lộc, hoặc nâng mình lên cảnh trời, nơi ấy được an nhân khoái lạc. Với hàng xuất gia, trong bậc Thanh văn, Phật dạy thị hành Tứ Diêu Đế: 1. Khổ Đế, 2. Tập Đế, 3. Diệt Đế, 4. Đạo Đế. Trong bậc Duyên giác, Phật dạy quán sát Thập nhị nhân duyên: 1. Vô minh, 2. Hành, 3. Thức, 4. Danh sắc, 5. Lục nhập, 6. Xúc, 7. Thọ, 8. Ái, 9. Thủ, 10. Hữu, 11. Sanh, 12. Lão tử. Trong bậc Bộ-tát, Phật dạy hành sáu Đại hạnh, gọi là Lục Ba-la-mật Đa hay Lục Độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ. Với hàng tại gia cơ sở, Phật cũng khuyên giữ một ít phần hành của chỉ vị xuất gia. Về sau, Phật không phân biệt Thanh văn, Duyên giác và Bộ-tát, cũng không phân biệt xuất gia với tại gia, ngài muốn cho mỗi người đều được quả Phật, nhập huệ Phật, nên ngài dạy ai nấy đều hành Tứ diêu đế, Thập nhị nhân duyên và Lục Độ. Như vậy để thành Phật và hướng Niết-bàn trọn vẹn, đời đời.
Vì ngài cho rằng mỗi người, xuất gia hay tại gia, Đàn ông hay Đàn bà, đều sẽ thành Phật và được Niết-bàn, chắng trừ ai hết.
Đức Thích-ca là sư của ta, cha là nh của ta. Vì tôn kính ngài, các Phật tử luôn xưng ngài là Đức Bốn Sư, Đức Phật Thế Tôn. Ngài giảng thuyết, thành Phật và dìu dắt chúng sanh ở cõi ấn độ đông hai ngàn năm rồi. Pháp giáo của ngài để lại cho Tăng già, cũng có thể tiếp độ chúng sanh cho đến bây giờ.
Tham khảo kinh điển
Bài viết này sử dụng hành pháp và giáo lý từ các kinh điển Phật giáo cơ bản, đặc biệt là những nội dung về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong Tam Tạng kinh điển, các pháp môn tu hành cho Thanh Văn, Duyên Giác và Bộ-Tát, cũng như các hướng dẫn tu tập cho Tứ chúng Phật tử.