Trong lịch sử Phật giáo, Thiền Tông biểu hiện một phương pháp tu học độc đáo – bất lập văn tự, không dựa vào lý luận hay ngôn từ để truyền đạt giáo pháp. Điều thú vị là, hai nhóm kinh được ghi lại từ những năm đầu tiên Đức Phật hoằng pháp không chuyên sâu vào Tứ Đế, mà chỉ nhấn mạnh khổ và cách lìa khổ. Nhờ đó, chúng ta có thể suy đoán rằng trong giai đoạn ban đầu, Đức Phật dạy Nhị Đế (khổ và lìa khổ), còn nhiều năm sau mới soạn thành Tứ Đế. Bài viết này sẽ khám phá những khía cạnh thực dụng của Thiền Tông, giúp bạn hiểu rõ hơn về phương pháp tu học trực tiếp và hiệu quả này từ góc độ tự tâm kinh nghiệm.
Hai Nhóm Kinh Nhất Tụng Sơ Thời: Nền Tảng của Thiền Tông
Khi Đức Phật hoằng pháp, hai nhóm kinh được các vị sa môn thường xuyên tụng là những tài liệu giáo dục quan trọng nhất. Nhóm kinh thứ nhất là Atthaka Vagga – Kinh Tập trong Tiểu Bộ Kinh, phần thứ tư, còn gọi là “Pháp Tám”. Nhóm kinh thứ hai là Parayanavagga – Kinh Tập phần thứ năm, hay “Pháp Qua Bờ Bên Kia”. Những kinh này chứa đựng lời dạy trực tiếp về khổ và cách lìa khổ.
Điểm đáng chú ý là hai nhóm kinh này không sử dụng thuật ngữ “A La Hán” hay phân chia thứ bậc Tứ Thánh. Thay vào đó, chúng chỉ nói đến những người đã giải thoát. Điều này cho thấy, ở giai đoạn sơ khai, Đức Phật không dùng các chữ và cách phân chia này mà chỉ hướng dẫn trực tiếp con đường giải thoát.
Hơn nữa, hai nhóm kinh này cũng không nêu rõ Bát Chính Đạo theo trật tự tám chi như chúng ta học ngày nay, dù tất cả nội dung của nó đều có mặt rải rác trong các kinh văn. Phương pháp tu luyện chủ yếu là: xa lìa cả Hữu và Vô, xả ly các sắc thụ tưởng hành thức, giữ tâm vô sở trụ, thấy các pháp là vô ngã, vô thường, là Không, như huyễn… Nhờ vậy, hai nhóm kinh nhất tụng sơ thời này chính là sự thuần túy của Thiền Tông.
Hai đặc điểm chính của Thiền Tông – bất lập văn tự và tu học trực tiếp qua kinh nghiệm
Các Pháp Như Huyễn: Sứ Mệnh Giác Ngộ Thực Tiễn
Tất cả những gì ý thức chúng ta nhận biết, nghĩ ngợi, tư lương thực ra đều là sản phẩm dựng lên như trò ảo thuật. Trong Kinh Tương Ưng Bộ, Kinh SN 22.95 có thể tóm tắt như sau: Sắc y hệt như đống bột nước, Thụ như bong bóng nước, Tưởng như tia rắng nắng, Hành như lớp vỏ cây chuối, Thức như ảo thuật gia dựng lên để xem hình ảnh… Bài kinh yêu cầu người tu nhất như lửa đang cháy trên đầu, hãy tỉnh giác đêm ngày nhìn thấy các uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức đều rỗng rang.
Kinh dạy rất mục đích: hàng ngày hành động, giữ tâm nhìn tất cả các pháp như rắng nắng, như trò ảo thuật, trong đó phần đầu y hệt Bát Nhã Tâm Kinh, phần sau là giữ tâm xả ly. Sự xả ly này cũng có nghĩa là tâm vô sở trụ – không có chỗ nào cho tâm an trụ, hay như Kinh Kim Cương đề thấy không có chỗ nào cho tâm an trụ hay như Kinh Tiểu Không nói lời Đức Phật rằng nhờ an trụ Không cho nên an trụ rất nhiều.
Giáo Lý Phát Triển: Từ Nhị Đế Đến Tứ Đế
Sự thật của vũ trụ hay sự thật của chúng sinh ba cõi – Dục, Sắc, Vô Sắc – là Bốn Sự Thật hay Tứ Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo). Có khi còn tắt là Nhị Đế hay Khổ và Diệt Khổ. Phương pháp lìa khổ là Bát Chính Đạo, nằm trong Đạo Đế.
Thú vị là, hai nhóm kinh nhất tụng sơ thời này không nói gì tới Tứ Đế, mà chỉ nói tới khổ và lìa khổ. Điều này cho phép chúng ta suy đoán: trong các năm đầu tiên, Đức Phật dạy Nhị Đế (khổ và lìa khổ), và nhiều năm sau mới sắp xếp lại thành Tứ Đế. Có thể vì khi dạy quý tăng chúng trong các năm đầu chủ yếu là đối với các căn cơ kháp khác, tùy căn cơ mà dạy.
Không nói gì tới Bát Chính Đạo trong hai nhóm kinh nhất tụng sơ thời, tức là không sắp theo trật tự tám chi như bây giờ chúng ta học, tuy rằng tất cả nội dung Bát Chính Đạo đều rải rác có đầy đủ qua các kinh nhất tụng này. Chủ yếu phương pháp tu là: tùy theo kinh trong hai nhóm kinh này – xa lìa cả Hữu và Vô, xả ly (buông bỏ sắc thụ tưởng hành thức ở cả ba thời), giữ tâm vô sở trụ, thấy các pháp là vô ngã, là vô thường, là Không, là như huyễn…
Bát Chính Đạo trong các giai đoạn khác nhau của Phật giáo – từ sơ khai đến phát triển
Thiền Tông: Phương Pháp Trực Tiếp Không Cần Thứ Bậc
Nhìn như vậy, hai nhóm kinh nhất tụng sơ thời này là Thiền Tông thuần túy. Đức Phật không dùng thuật ngữ A La Hán hay các bậc Tứ Thánh như sau này. Ngài chỉ dạy con đường giải thoát trực tiếp, không qua các thứ bậc. Với phương pháp này, bất kỳ ai cũng có thể thực chứng, bất kỳ khi nào cũng có thể giải thoát.
Trong lịch sử Phật giáo, Thiền Tông là phần lớn trực tiếp từ hai nhóm kinh này. Sau khi Đức Phật vào Niết Bàn, từ vài trăm năm sau mới có chuyên Nam Truyền và Bắc Truyền. Những điều cần lưu ý là, Thiền Tông không phải là sáng tạo mới trong những thế kỷ sau, mà là sự truyền thừa trực tiếp từ những kinh học sơ khai mà Đức Phật đã dạy.
Khi Tâm Thấy Vô Thường: Bản Chất Thực Sự của Tâm
Bá»” Äức Pháºt Ēã dạy: khi luôn trực giữ tâm nhận biết các pháp như huyễn, sẽ không cần phương tiện tu hành gì khác. Biết huyễn là phát lập tức ly, bất tác phương tiện, ly huyễn tức là giác, diệc vô tiềm thụ…. Biết các pháp hóa hiện như huyễn tức khắc xả ly, chẳng khởi phương tiện gì, xả ly các huyễn tức là tỉnh giác, cũng không có tu tập thứ lớp.
Trong Tạng Pali, Ngài Xá Lợi Phật để lại bài kệ “Guhatthaka-suttaniddeso: Upon the Tip of a Needle” mô tả rằng tất cả các pháp trong ba cõi, cả thân tâm (sắc thụ tưởng hành thức) đều đang chảy xiết qua các khoảnh khắc khác thời gian, y như điểm tiếp giáp của một hạt đậu rất nhỏ đặt lơ lửng trên đầu một mũi kim.
Những người nhận thức các pháp trôi chảy như thế, đó là thấy như huyễn. Trong cái nhìn đó, họ khỏi tâm gì đi nữa, cũng sẽ là mất cảm nhận về dòng chảy như huyễn. Khi cảm nhận như huyễn trôi chảy qua thân tâm như thế, không có gì khác cần là làm nữa, vì lập tức là ly nhất thiết pháp. Khi cảm nhận dòng vô thường trôi chảy trên toàn thân như thế, trôi chảy xuyên qua khắp toàn thân mình, cũng có thể gọi đó là “niệm vô thường” và cũng có thể gọi là “niệm toàn thân, vì lúc đó thân và tâm sẽ thấy như là một, nhưng không hề một hay nhiều.
Thiền Tông bất lập văn tự – con đường trực tiếp không qua ngôn từ của Phật giáo
Bồ Đề Đạt Ma: Không Vương Trong Ngoài
Tới đây, có một thắc mắc: chàng trai Uggasena trong khoảnh khắc trở thành A La Hán, như thế Bồ Đề Đạt Ma, sơ tổ Thiền Tông, theo truyền thuyết ngồi 9 năm nhìn vách đá trên núi Thiểu Tháp. Chúng ta thường nghe, thường đọc rằng phương pháp tu của Thiền Bồ Đề Đạt Ma truyền dạy là không có pháp nào để tu hết, vì là buông nhất thiết pháp… Vậy thì, Ngài ngồi là làm gì?
Trong Sáu Cửa Vào Đạo Thiểu Tháp, nơi Cửa Thứ Ba là Nhị Chủng Nhập, phần Xứng Pháp Hành Cơ có bài kệ, với 4 câu đầu là:
Ngoài tục chỉ duyên
Nội tâm vô đoạn
Tâm như tưởng bích
Khả dự nhập đạo
Tạm dịch:
Ngoài, dứt hết các duyên
Trong, không tư lương định mắc
Tâm hệt như tưởng vách
Mới có thể vào đạo
Khi dạy như thế, Ngài Bồ Đề Đạt Ma đã vâng lời Đức Phật, rằng: hãy để tâm lặng lẽ, không định gì tới trong hay ngoài. Và đó là kết thúc sinh giá bệnh chết. Thế nào là “tâm như tưởng vách”? Vô tưởng mới thực là tưởng vách, vì vô tưởng là lìa sanh diệt, bất khả hư hoại.
Trong Trung Bộ, Kinh MN 138, bản tiếng Việt của Hòa Thương Thích Minh Châu ghi lời Đức Phật dạy ngắn gọn: “Thế Tôn nói như sau: Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo cần phải quán sát một cách như thế nào để thức của vị ấy đối với ngoài trần không tán loạn, không tán rộng, tâm không trú trước nội trần, không bị chấp thủ quây rối. Này các Tỷ-kheo, nếu thức đối với ngoài trần không tán loạn, không tán rộng, tâm không trú trước nội trần, không bị chấp thủ quây rối, sẽ không có tập khởi, sanh khởi của khổ và sanh, giá, chết trong tương lai.”
Bên ngoài lìa tưởng là Thiền, bên trong không loạn là Định. Thực sự, trong và ngoài chỉ là tâm nói, vì khắp thế giới trong ngoài chỉ những gì hiện ra trong kinh nghiệm của tâm mình thôi. Nói gì cũng không trúng khi tâm vô sở trụ.
Bồ Đề Đạt Ma và Lời Dạy: “Không Vương Ngoài”
Bồ Đề Đạt Ma, sơ tổ Thiền Tông, dạy rằng để tâm không định gì bên ngoài, thì chính là Thiền. Tâm lặng lẽ, không loạn bên trong, chính là Định. Khi nói “bên ngoài không vương”, không phải là xua đuổi cảm giác, mà là không để tâm bị tưởng bắt. Khi cảm giác nảy sinh, để nó tự nhiên sinh tự nhiên diệt, không gắng sức. Đó là phương pháp không cần phương tiện, không cần tu hành.
Lục Tổ Huệ Năng cũng nói tu pháp vô tưởng nghĩa là không vương gì tới tất cả trong ngoài. Kinh Pháp Bảo Đàn, bản dịch của Thầy Thích Duy Lực, Phẩm Tự Tâm Thiền viết: “Thiền chỉ thức, nếu người tu theo pháp chẳng đúng, khi thấy mỗi người mà chẳng thấy tất cả thứ phi, thiện ác, lợi lăm của người, tức là tự tá tính chẳng đúng… Thiền chỉ thức, sao gọi là Thiền Định? Bên ngoài lìa tưởng là Thiền, bên trong chẳng loạn là Định.”
Thực sự, trong với ngoài chỉ là tâm nói, vì khắp thế giới trong ngoài chi là những gì hiện ra trong kinh nghiệm của tâm mình thôi.
Khoa Học Hiện Đại và Bản Chất Giả: Einstein Nói Về Ảo Giác Thời Gian
Các nhà khoa học cũng nói sau Đức Phật hơn hai ngàn năm rằng tất cả các pháp đều như huyễn, như mạng. Nhà khoa học Albert Einstein trong lá thư gửi người bạn thân Robert S. Marcus năm 1950 đã viết rằng “ảo giác quang học của ý thức” đã phóng chiếu ra kinh nghiệm của từng người. Trong lá thư khác, gửi cho gia đình nhà vật lý Michele Angelo Besso năm 1955, khi Besso từ trần, Einstein an ủi gia đình người bạn thân đó: “Bây giờ, anh bạn tôi đã rời thế giới kỳ lạ này một chút trước tôi. Như thế không có nghĩa gì cả. Những người như chúng tôi, những người tin vào môn vật lý, biết rằng sự phân biệt giữa quá khứ, hiện tại, và tương lai chỉ là một ảo giác cổ mã không tan.”
Điều này có nghĩa là: Einstein nói rằng phân biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai là ảo giác. Câu hỏi nơi đây là, Phật Giáo nói gì về thời gian? Nếu chỉ dựa theo Kinh, sẽ thấy Đức Phật có nói về ba thời, rằng hãy buông bỏ tất cả các uẩn (sắc thụ tưởng hành thức) trong quá khứ, tương lai, và hiện tại.
Tứ Loại Thời Gian Theo Phật Giáo
Sự thật của vũ trụ hay sự thật của chúng sinh ba cõi là Bốn Sự Thật, có khi còn tắt là Nhị Đế hay Khổ và Diệt Khổ. Phương pháp lìa khổ là Bát Chính Đạo. Thời gian thứ tư là “phi thời gian” là khi Đức Phật nói về Niết Bàn. Đó là vĩnh cửu. Thời gian này là thường hằng, là an lạc, là thanh tịnh – như ghi trong nhóm Kinh Như Thị Thuyết, Itivuttaka 43:
“Giải thoát ra khỏi [sinh tử] là hạ hạnh phúc, vượt ngoài lý luận, cái thời gian vĩnh cửu, cái không sanh khởi, không tạo tác, không hề sâu khổ, không hề nhiễm ô, tích diệt tất cả những gì liên hệ tới khổ, vắng tất cả các duyên khởi – rất mục an lạc.”
Dựa theo Kinh, sẽ thấy có 4 loại thời gian. Tuy nhiên, trong các bộ luận, như Abhidhamma, thời gian phân chia phức tạp hơn; nhưng đó là chuyên của các luận sư. Như thế, trong khi chúng ta đi đứng nằm ngồi, hãy buông hết tất cả những gì định tới ba thời.
Quán Sát Thời Gian: Phương Pháp Tu Học Trực Tiếp
Tu pháp này cực kỳ hạnh phúc. Sẽ thấy toàn thân, toàn tâm, toàn thế giới như đương là một thể trong dòng phi thời gian, bất kỳ chúng ta đang đi đứng nằm ngồi. Sách Trung Luận của ngài Long Thọ (Nagarjuna), bản Việt dịch của HT Thích Thiên Siêu, ghi bài kệ về “Quán Sát Về Đi Đến Đế: “Lúc đã đi thì không có đi, lúc chưa đi thì cũng không có đi, lìa ngoài đã đi và chưa đi, lúc đang đi cũng không có đi.”
Cũng là diễn lại Kinh Pháp Cú, Kệ 348 đã nói trên, khi tất cả các pháp trở thành một hiện thể thực tưởng, là vô thường, và là Phật Tánh hiện ra trước mặt, bên tai – trôi chảy, nhưng vẫn là bất động. Bước đi trong cái không đi, cực kỳ hạnh phúc. Trong khi thấy ba thời vắng lặng, tự nhiên tâm sẽ lặng lẽ, sẽ không dậy động, bất kỳ mình đang bước đi. Ai cũng có thể tập pháp này: buông hết cả ba thời. Cũng có nghĩa là, nói theo Thiền Tông: bên ngoài lìa tưởng, bên trong không loạn.
Kết Luận: Bản Chất Thực Sự Của Thiền Tông
Thiền Tông bất lập văn tự không phải là lý thuyết cao xa, mà là phương pháp tu học trực tiếp, đơn giản nhưng sâu sắc. Bằng cách giữ tâm lặng lẽ, không vương bất cứ điều gì trong hay ngoài, chúng ta chính là bước vào cánh cửa của giác ngộ. Đó là sự tu học không cần phương tiện, không cần thứ bậc, mà bất kỳ ai cũng có thể thực hành ngay hôm nay.
Phương pháp này đã được Đức Phật dạy trong những năm đầu tiên, được ghi lại trong hai nhóm kinh nhất tụng sơ thời, và tiếp tục được các bậc sơ tổ Thiền Tông truyền thừa qua nhiều thế kỷ. Khi chúng ta thực sự hiểu được rằng tất cả các pháp đều như huyễn, không có điều gì thực sự để gắn bó, tâm sẽ tự nhiên lìa khổ, đạt được cảnh giới bất động, vĩnh cửu.
Hãy bắt đầu thực hành hôm nay: đi đứng nằm ngồi, để tâm lặng lẽ, buông bỏ quá khứ và tương lai, sống trọn vẹn trong hiện tại vô tưởng. Đó chính là Thiền Tông, đó chính là con đường giải thoát mà Đức Phật đã dạy.
Tài Liệu Tham Khảo Kinh Điển
- Atthaka Vagga – Kinh Tập (Tiểu Bộ Kinh, phần thứ tư)
- Parayanavagga – Kinh Tập (Tiểu Bộ Kinh, phần thứ năm)
- Kinh Tương Ưng Bộ, Kinh SN 22.95
- Kinh Trung Bộ, Kinh MN 138
- Kinh Pháp Cú, Kệ 348
- Kinh Như Thị Thuyết, Itivuttaka 43
- Kinh Kim Cương
- Kinh Tiểu Không
- Sách Trung Luận – Nagarjuna
- Kinh Pháp Bảo Đàn – Lục Tổ Huệ Năng