Phật giáo Nguyên thủy là gốc rễ, không thể bỏ được, nhưng phải phát triển thành Phật giáo Đại thừa. Nếu chúng ta giữ nguyên cái gốc Nguyên thủy, không phát triển thì Phật giáo không thể nào tồn tại được, sẽ bị mai mất theo thời gian. Đây là nhận thức quan trọng về sự tiến hóa của Phật pháp qua các thế kỷ, thích ứng với nhu cầu của chúng sinh ở mỗi thời đại khác nhau.
Phật giáo Nguyên thủy thường cho rằng kinh Đại thừa không phải được Phật nói và các học giả nghiên cứu Phật giáo cũng chấp nhận điều này. Riêng tôi, lúc mới học pháp Phật theo nghĩa lịch sử và triết học, cũng cảm thấy hơi lúng túng về vấn đề này. Như vậy, Phật giáo Đại thừa có phải thuộc ngoài đạo hay không, hay nói nhẹ hơn là do ngoài đạo thâm nhập vào đạo Phật chăng? Tại sao họ lại nói như vậy?
Thực tế, trước nhất chúng ta thấy kinh Đại thừa có nhiều điểm giống ngoài đạo và nói nhiều về chư Thiên, chư thần, và sau Kim Cang thừa lại thêm thần chủ. Trong kinh Nguyên thủy không nói đến chư thần, chư Bồ tát và thần chủ. Việc cập đến chư Phật quá khứ là điều bình thường, nhưng Phật giáo Nguyên thủy chỉ công nhận có Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm và Phật Ca Diếp, và hiện tại có Đức Phật Thích Ca, tương lai có Đức Phật Di Lặc ra đời.
Các vị tu sĩ Namtông nói với tôi rằng họ là Sa môn không lấy được Di Lặc, vì Ngài chưa thành Phật, mà đang đóng vai chư Thiên. Trong khi theo Phật giáo Đại thừa, các Bồ tát hiện thân cơ sở rất nhiều. Chúng ta lấy các Bồ tát như Quan Âm, Phổ Hiền, Văn Thù, Di Lặc, v.v… một cách tự nhiên và cung kính các Ngài với tất cả tâm lòng. Phật giáo Nguyên thủy cho rằng tu sĩ Phật giáo Đại thừa không phải là Sa môn. Vì vậy, nếu chúng ta tu theo Nguyên thủy, thì phải là tu xuất gia lại, thỏ giới lại.
Điển hình như chư vị Hòa thương Tịnh Sự, Giới Nghiêm, Ân Lâm là những vị lãnh đạo Phật giáo Nguyên thủy, nhưng lúc đầu các Ngài theo Phật giáo Đại thừa và phải thỏ giới Tỳ kheo lại khi theo Nguyên thủy.
Chùa Thiên Mụ – Biểu tượng kiến trúc Phật giáo Việt Nam với lối hiến lên Phật Pháp
Tư Tưởng Mới Của Đức Phật: Xóa Bỏ Phân Biệt Giai Cấp
Khi Phật giáo Việt Nam tìm cách thống nhất sinh hoạt của Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Bắc tông, thì bước đầu gặp rất nhiều khó khăn. Vì theo quan niệm của Phật giáo Nguyên thủy, không coi chúng ta là Sa môn. Riêng tôi, để kết nối Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Nguyên thủy, tôi đã nghiên cứu và giảng giải những điểm tương thông giữa kinh điển Đại thừa và Nguyên thủy. Đó là điều tất yếu chúng ta phải thực hiện được.
Tự tưởng mới của Đức Phật là không chấp nhận giai cấp mà chỉ Đức Phật mới đủ tự cách nói lên chân lý này, vì Ngài xuất thân từ giai cấp cao trong xã hội báy giờ. Quần chúng Ấn Độ đã tin theo Phật, vì Ngài nói lên nguyện vọng của họ, bênh vực quyền lợi cho họ. Đến khi quần chúng theo Phật đông, uy tín Phật rất mạnh, đạo lực Phật siêu việt, nên buộc vua chúa cũng phải theo Ngài.
Đức Phật đã dung hòa được bốn giai cấp vốn không thể nhìn nhau, mà nay có thể ngồi lại với nhau, tạo thành xã hội an lạc thật sự. Chủ trương không có giai cấp do Đức Phật để ra, chúng ta nên hiểu như thế nào? Nếu nhìn đúng như thật, chúng ta phải thấy sự bình đẳng luôn hiện hữu trên chân lý, còn trong thực tế xã hội này, phải chấp nhận có sự sai biệt khác nhau của từng người.
Đừng hiểu lầm rằng thực tế cuộc sống này không có sai biệt mà thì tốt; vì không thể nào không có sự sai biệt giữa con người. Thật vậy, chúng ta cũng tu theo Phật giáo, nhưng tôi thuyết pháp, thầy Tạ là làm thư ký, thầy Quang Thánh thì vẫn đóng vai Phật tử mở đầu việc cúng dường hai tuần cho trường hạ. Tất cả chúng ta, mỗi người có một việc khác nhau, nhưng đều có một điểm chung là giữ gìn uy tín, danh dự của trường hạ này. Không phải tất cả mỗi người cũng làm một việc. Tùy theo trình độ, tùy khả năng, tùy hoàn cảnh mà chúng ta đóng góp cho Phật giáo khác nhau, không loại bỏ ai ra ngoài; đó là tinh thần phát triển, trừ bỏ một thành phần nào cũng là làm cho Phật giáo bị suy yếu, bị phân hóa.
Hòa thương Thích Trí Quảng – Nhà lãnh đạo Phật giáo tiêu biểu của thời kỳ hội nhập
Tinh Thần Hòa Hợp Trong Giáo Hội Phật Giáo
Giáo hội Phật giáo chúng ta nhờ đoàn kết và chấp nhận sự sai biệt của các hệ phái, nên đã thành tựu một số việc đáng kể trong suốt ba mươi năm qua. Mỗi người làm một việc đúng với khả năng mình, nhất định đều đóng góp được lợi ích cho đạo pháp. Phật giáo Đại thừa triển khai giáo pháp cho đại chúng theo được, từ đó mới có những nhân vật của truyền thống Ấn Độ, như Đại Phám Thiên vương, Trì Quốc Thiên vương, Tứ Sơn Môn Thiên vương là chư Thiên mà người Ấn tin tưởng.
Đó chính là tinh thần kế thừa có chọn lọc, tức có sự thay đổi mà dân chúng Ấn chấp nhận được. Với tinh thần dung hòa như vậy, Phật giáo phát triển truyền lên phía Bắc gặp văn minh Ai Cập, Hy Lạp, La Mã là ba nền văn minh lớn của Trung Đông và tiếp thu ba nền văn minh này, hình thành tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Như vậy, có thể nói vào thời kỳ đó, tư tưởng Phật giáo đã trở thành đỉnh cao của văn minh nhân loại.
Nhưng khi Phật giáo phát triển mạnh mẽ như vậy, cũng phải phạm phải sai lầm. Thật vậy, Phật giáo rực rỡ ở Iran, Irak với những pho tượng Phật vô đại cao đến 60-70 mét, nhưng dân chúng ở đây không theo đạo Phật. Phật giáo mạnh về tư tưởng siêu tuyệt, nhưng yếu vì không thâm nhập được vào đời sống quần chúng. Vì vậy, từ vị trí thống lãnh toàn cầu về tư tưởng, Phật giáo đã rơi vào thế yếu, vì bỏ rơi quần chúng. Không kết hợp được với quần chúng, nên Phật giáo bị phân hóa, cuối cùng bị Hồi giáo sát hại.
Đây là bài học ngàn vàng mà quý thầy cần ghi nhớ, sự phát triển về tư tưởng rất cần thiết, nhưng lực lượng quần chúng cũng quan trọng không kém. Ngày nào Phật giáo không còn là nơi nương tựa vững chắc của quần chúng thì biết Phật giáo sắp bị tận diệt.
Kinh Pháp Hoa – Kinh điển nêu cao vai trò của quần chúng tu Phật
Vai Trò Của Quần Chúng Trong Phát Triển Phật Giáo
Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật nói rằng quần chúng là quan trọng nhất. Dù chúng ta có lên đến đỉnh cao là Phật, nhưng không phải ngủ mải trên cao này được. Trở về thực tế, thầy nào có hai, ba bằng cấp tiến sĩ, đừng nghĩ mình là nhất; vì không có quần chúng ủng hộ, sẽ bị rơi xuống. Nền tảng là quần chúng chiếm 80%, thành phần ở giữa khoảng 20% và ở trên đỉnh chỉ có 1%.
Phật giáo Việt Nam rất may mắn, vừa tiếp thu được những nền văn minh của Ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, lại đón nhận thêm nền văn minh Trung Hoa. Và chính bậc Đại Thiền sư lão Lạc là Ngài Vân Hạnh đã vận dụng được năm nền văn minh này vào việc hoằng hóa lợi sinh ở đất nước Việt Nam nhỏ bé, tạo thành sức mạnh siêu quần cho đất nước chúng ta nói chung và là làm nên thời kỳ vàng son cho Phật giáo Lý-Trần nói riêng.
Có thể khẳng định Phật giáo Bắc tông tôn thờ các thần linh, nhưng chính yếu vẫn là phát huy năng lực của con người. Còn tiếp thu để biến mình trở thành kẻ nô lệ là sai lầm, không phải mục tiêu của Phật giáo Đại thừa.
Theo tôi, tông phái nào cũng được, quan trọng là quần chúng có chấp nhận và tu theo được hay không. Và khi được quần chúng ủng hộ rồi, chúng ta không nên xé lẻ ra mà nên sinh hoạt chung trong Giáo hội. Thấy người làm được việc, chúng ta kính trọng, không nên giảm pha. Hòa thương Thanh Tứ xây dựng được nhiều thiền viện, độ được nhiều Tăng Ni, Phật tử, Ngài là bậc cao tăng đáng kính trọng. Hoặc Hòa thương Nhất Hạnh thành công trên con đường hoằng pháp khắp thế giới. Tôi coi thành công của Ngài là thành công của Phật giáo Việt Nam, rất đáng được trân trọng.
Ngài truyền đạo ở các nước Tây phương, nên phải thích nghi với văn hóa Tây phương. Ngài để tượng Đức Phật nhìn tương Đức Chúa, hai đất giáo chủ này mỉm cười với nhau. Nếu không hiểu Hòa thương thì chê bai, nhưng đạo hành của Ngài đã cảm hóa được nhiều người, đó là tinh thần đa dạng, đa phương của Phật giáo Đại thừa. Tinh thần này rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của Phật giáo trên toàn thế giới.
Phương Tiện Đa Dạng Trong Phật Giáo Đại Thừa
Trong kinh Pháp Hoa, ý này được Đức Phật ví như đất sét, tùy theo yêu cầu của người tiêu dùng mà người thợ tạo ra những món đồ khác nhau, tiêu biểu cho những phương tiện của đạo Phật. Cũng giống như vậy, đến đâu hình đạo, nếu người ta cần coi ngày giờ tốt xấu, tôi cũng coi được, để đáp ứng nhu cầu của quần chúng, nhưng cốt lõi bên trong của mình vẫn là tu sĩ Phật giáo.
Còn phương tiện thì đa phương, đa dạng và tùy theo thời gian mà chúng ta thay đổi cho thích hợp, để dần dần dìu dắt mỗi người theo Phật đạo. Đối với những người tu tập, nếu có những nhu cầu tâm linh cần sự trợ giúp từ các Bồ tát, tôi cũng thực hiện đó là hình Bồ tát đạo để Phật giáo tồn tại trên thế gian này.
Tóm lại, để sinh hoạt Phật giáo tồn tại và phát triển trên thế gian này, chúng ta không chỉ lo phát triển số đông tín đồ, mà quên việc đào tạo người lãnh đạo, quên việc phát triển đức hạnh và tâm linh của người tu; hoặc ngược lại, không phải chỉ chú trọng việc tu học, mà không quan tâm đến việc hướng dẫn quần chúng ứng dụng Phật pháp vào cuộc sống hàng ngày, hay không đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của số đông người dân thường.
Tăng Ni và Phật tử, mỗi người bằng tất cả tâm lòng vì đạo của mình và tùy theo khả năng, tận lực đóng góp cho ngôi nhà Phật giáo luôn là bóng mắt bình yên cho mỗi người nương tựa. Đó chính là chân tinh thần Phật giáo Đại thừa hướng đến cho mỗi người, vì hạnh phúc, an vui của mỗi người.