Image default
Luận Giải & Nghiên Cứu Phật Học

Tính Thanh Tịnh – Con Đường Giác Ngộ của Chúng Ta

Tính Thanh Tịnh, hay Phật Quốc Tịnh Độ, đã chiếm một vị trí đặc biệt trong tâm linh của mỗi Phật tử Việt Nam. Đây không chỉ là niềm tin về một thế giới tương lai tuyệt vời, mà còn là một phương pháp tu tập thiết thực, giúp mỗi người vượt qua khổ đau của cuộc sống hiện tại. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về khái niệm Tính Thanh Tịnh, các dạng Tính Thanh Tịnh khác nhau, và cách tu tập phương pháp này một cách hiệu quả trong đời sống hàng ngày.

Khái Niệm Cơ Bản về Tính Thanh Tịnh

Tính Thanh Tịnh, trong tiếng Phạn là “Buddha-kṣetra”, được hiểu là một cõi thanh tịnh thuộc về một vị Phật đã tạo ra. Vì có vô số chư Phật nên cũng sẽ có vô số Tính Thanh Tịnh. Tính Thanh Tịnh được xem là hóa thân của một thế giới mới tốt đẹp, là cõi của những người tu hành muốn được tái sinh về đó.

Trong nhân gian, chúng ta thường hiểu Tính Thanh Tịnh là một nơi có vị trí địa lý nhất định. Nhưng thực ra, Tính Thanh Tịnh là một dạng “tâm thức Giác Ngộ”, sẽ không bị ô nhiễm bởi những cầu ước của trần tục; và những phương hướng Đông, Tây, Nam, Bắc… chỉ có tính tưởng hình. Tính Thanh Tịnh cũng chưa phải là mục đích cuối cùng trên con đường tu tập. Trong tinh thần Đại Thừa, Đức Phật Đặc biệt nói những bộ Kinh cứu cánh như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Niết Bàn… ý chỉ nêu rõ: “Những cõi nước do Đức Phật biến hóa, là m phương tiện để an ủi chúng sanh những lúc cảm thấy một mệi, chán nản đều gọi đó là cõi Phương tiện, Hóa thân nhân”. Chỉ có Niết Bàn của Phật mới thực sự là Bảo sơ mà thôi!

Tính Thanh Tịnh không chỉ có một mà được chia làm bốn loại khác nhauTính Thanh Tịnh không chỉ có một mà được chia làm bốn loại khác nhau

Tính Thanh Tịnh không chỉ có một mà được chia làm bốn loại khác nhau, gồm: Tính Thanh Tịnh thiết lập ngay trong tâm mỗi người (Tính Thanh Tịnh tự tâm); Tính Thanh Tịnh của các Đức Phật kiến thiết từ Nguyên lực của mình (Tính Thanh Tịnh Phật quốc); Tính Thanh Tịnh thiết lập tại nhân gian do sự nỗ lực giáo hóa chúng sanh, tính hóa nhân gian của chư Phật, Bồ tát, Thánh chứng…(Tính Thanh Tịnh nhân gian); và cuối cùng là Tính Thanh Tịnh thiên quốc, cũng chính là cõi Tính Thanh Tịnh Đâu Suất của Đức Phật Di Lặc.

Các Dạng Tính Thanh Tịnh Chính

Tính Thanh Tịnh Đâu Suất của Đức Phật Di Lặc

Theo kinh điển, Đức Phật Di Lặc sẽ xuất hiện trong tương lai và thiết lập nên cõi Tính Thanh Tịnh Đâu Suất cho chúng sanh. Trong Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thường Sanh Đâu Suất, có nói về Đức Phật Di Lặc và cõi Tính Thanh Tịnh Đâu Suất. Điều kiện để vãng sanh là trước khi lâm chung phải quán tưởng và trì niệm danh hiệu của Đức Phật Di Lặc. Hình giả sau khi sanh về đây sẽ tiếp tục tu tập cùng Đức Phật Di Lặc và háp sanh lại cõi Diêm phù độ để tịnh hóa Ta bà, kiến thiết Tính Thanh Tịnh nhân gian.

Tính Thanh Tịnh Đâu Suất mang những đặc điểm riêng biệt, trong đó có sự kết hợp giữa môi trường tu tập lý tưởng và khả năng tiếp cận của chúng sanh đủi các căn cơ khác nhau. Đây là nơi chúng sanh có thể tiếp tục tu tập trên con đường tìm kiếm giác ngộ, với sự hỗ trợ trực tiếp từ Đức Phật Di Lặc.

Tính Thanh Tịnh Đông Phương Diêu Hạy của Đức Phật A Súc Bệ

A Súc Bệ, nghĩa là không động, Bất Động Như Lai. Danh hiệu này được đề cập trong các Kinh Đại Bát Nhã (Phẩm Kiến Bất Động), Duy Ma Cật (Phẩm Kiến A Súc Phật Quốc), Kinh A Di Đà… Từ tưởng Tính Thanh Tịnh của Phật A Súc Bệ này bắt nguồn từ các kinh điển nói về Đức Phật này và 39 Đại nguyên của Ngài Đã kiến thiết nên cõi Tính Thanh Tịnh Đông phương.

Hình giả nếu muốn vãng sanh về thế giới Đông phương Diêu hạy của Ngài thì phải tu Lục Độ, Bát nhã Không quán và trì niệm danh hiệu Ngài. Tính Thanh Tịnh này đặc biệt tôn vinh trí tuệ vô lậu và sự tu tập chân chánh của các chúng sanh.

Phát nguyện trong Tính Thanh Tịnh là chìa khóa để thực hiện tâm nguyệnPhát nguyện trong Tính Thanh Tịnh là chìa khóa để thực hiện tâm nguyện

Tính Thanh Tịnh Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà

Theo nghiên cứu của các học giả Phật giáo, Tính Thanh Tịnh Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà xuất hiện theo khuynh hướng tu tập để thoát ly khỏi khổ đau của cõi Ta bà, háu sanh về một cảnh giới an vui hơn. Phương pháp này đáp ứng một trao lưu tín ngưỡng vừa mang tính bình dân, vừa có tính thần thoại của đại đa số quần chúng.

Là một cõi Tính Thanh Tịnh được diễn tả rõ nét nhất trong Kinh A Di Đà, nơi đây chỉ toàn an lạc, không có thống khổ, đầy đủ thất bảo, trang nghiêm, thú tháng. Và trong Kinh Vô Lượng Thọ, hình tượng Đức Phật A Di Đà là đại biểu cho vô lượng tất cả chư Phật.

Điểm khác biệt ở cõi Tính Thanh Tịnh Tây phương của Đức Phật A Di Đà so với các cõi Phật khác chính là: Ngoài tự lực của hình giả trì niệm danh hiệu Phật đến chuyên nhất tâm bất loạn, Kinh Vô Lượng Thọ còn đề cao tha lực của Đức Phật A Di Đà trong việc tiếp dẫn hình giả vãng sanh một cách tối đa. Trừ những chúng sanh phạm tội hủy báng Tam bảo và ngũ nghịch ra, thì bất kỳ ai, chỉ cần có niệm tin kiên cố vào Đức Phật A Di Đà đều có thể vãng sanh về cõi nước của Ngài.

Ngoài những cõi Tính Thanh Tịnh nêu trên, còn có nhiều cõi Tính Thanh Tịnh khác do các Đức Phật tạo thành dành cho hướng nguyện sanh về của từng hình giả. Mỗi cõi đều mang những đặc điểm riêng, phù hợp với nhu cầu và căn cơ tu tập của các chúng sanh.

Vai Trò của Nguyên Lực trong Tính Thanh Tịnh

Hiểu Biết về Nguyên Lực

Nguyên: Là một trong những yếu tố đặc trưng của Phật giáo; cộng với Duyên, sẽ giúp cho hình giả đạt được những Quả cao quý. Nguyên cũng là một trong 10 Ba-la-mật (theo Phật giáo Nguyên thủy), gồm: Bố thí, Trì giới, Tinh tấn, Kham nhẫn, Trí tuệ, Xuất gia, Chân thật, Phát nguyện, Từ và Xả. Không những chỉ riêng Đức Phật A Di Đà mới có 48 Đại nguyên để kiết thiết nên cõi Tính Thanh Tịnh Tây phương, mà chư Phật, Bồ tát hay thậm chí là hàng Thanh văn cũng có những sự phát nguyện khác nhau của riêng mình trong khi tu hành.

Ba-la-mật được chia thành 3 bậc: (1) Hạ: phát nguyện Ba-la-mật trong tâm; (2) Trung: phát nguyện Ba-la-mật bằng lời nói nơi miệng; (3) Thượng: phát nguyện thực hành Ba-la-mật nơi thân. Tương ứng theo đó sẽ có Thanh văn thường, Đại Thanh văn và Thanh văn Thượng thủ là bậc có thể thực hành 10 Ba-la-mật nơi thân ngay trong đời sống hiện tại giống như chư Phật và Bồ tát.

Trong tất cả các Nguyên thì Bồ Đề tâm nguyện (nguyện thành Vô thượng Chính Đẳng Chính giác) là tối thượng nhất. Trong Buddhavamsa (Phật sử), Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng phải trải qua 3 giai đoạn phát nguyện thực hành Ba-la-mật, cộng với 10 nghìn Đại kiếp trải đất mới thành tựu được Vô thượng Chính Đẳng Chính giác. Vậy chúng ta thấy rằng nếu không có Nguyện thì không thể thực hành trên vận Ba-la-mật, mà không thực hành trên vận các pháp Ba-la-mật thì không thể thành tựu Vô thượng Chính Đẳng Chính giác.

Nguyên Lực – Sức Mạnh Biến Hóa

Nguyên lực: Là năng lực, sức mạnh được phát sanh từ nguyện mà hình giả đã thiết lập. Sức mạnh này nuôi dưỡng các hạt giống Thiện, tăng trưởng Thiện tâm và giúp hình giả vượt qua được những chướng duyên. Thực hành Ba-la-mật cũng giống như là làm việc lớn, việc công lớn thì chướng duyên, trở ngại cũng khó vượt qua, khiến cho hình giả dễ thoái thất tâm Bồ Đề. Nguyên lực chính là sức mạnh phi thường giữ vững Bồ Đề tâm, đẩy hình giả tiến thẳng đến quả vị Vô thượng Chính Đẳng Chính giác.

Chỉ có Nguyên lực (sức mạnh vô đại nhất) mới có thể chiến thắng được Nghiệp lực (sức mạnh đáng sợ nhất). Sức mạnh của Nguyên giúp cho hình giả từ phẩm vị thập tiến lên phẩm vị cao, rồi dần tiến đến Thánh vị. Nhờ có Nguyên lực mà hình giả có thể tự do ra vào ba cõi để độ sanh mà không bị dòng Nghiệp lực cuốn trôi, nhân chìm và vào sanh tử luân hồi.

Bốn Nguyên – Tha Lực Ban Sơ

Tính Thanh Tịnh có một đặc điểm mà các tông phái khác không có, đó chính là Bốn nguyên tha lực (Nguyên ban sơ). Vì chúng sanh mà phát nguyện trợ giúp, dìu dắt há. Bốn nguyên sanh ra Tha lực. Tha lực đấy sẽ luôn song hành và hỗ trợ cùng Tự lực của chúng sanh trên bước đường tu tập. Một hình giả phải có tâm lòng Đại từ bi và Đại trí tuệ mới có thể tạo nên Bốn nguyên kiên cố, vô đại (Đại nguyên).

Các Quan Điểm Tu Tập Tính Thanh Tịnh Nổi Bật

Quan Điểm của Ngài Vĩnh Minh Diễn Thọ

Ngài Diễn Thọ (904-975) xuất thân từ Nho học. Năm 34 tuổi, Ngài xuất gia theo Phật giáo. Năm 961, Ngài được mời về trụ trì chùa Vĩnh Minh, nên có hiệu là Vĩnh Minh Diễn Thọ. Ngài là bậc hành trì nghiêm mật và là mô phạm cho việc phụng sự Phật pháp. Ngài là Tổ thứ 6 của Tính Thanh Tịnh tông Trung Hoa và được xem như hóa thân của Đức Phật A Di Đà.

Ngài cho rằng: “Vận sự tịnh nhiệm vốn bắt nguồn từ Tâm”. Tâm có hai phương diện Thể và Dụng: Thể là tâm chân thật, thanh tịnh, là của chơn như; Dụng là tâm duyên lực, lực tịnh, lực nhiễm, vọng động, là của sanh diệt. Thể và Dụng tuy hai mà một, không thể tách rời, đều trực thuộc tâm. “Tâm này bình đẳng thì pháp giới thần nhiên, tâm này biến dịch thì ngàn sai tranh khơi”. Thành Phật hay thành chứng sanh cũng đều do tâm.

Chính quan điểm này của Ngài mà mở ra cánh cửa cho sự hợp nhất Thiền – Tính Thanh Tịnh song tu. Theo quan điểm của Ngài, Tính Thanh Tịnh tại tâm, mà Địa ngục cũng từ tâm khởi tạo. Chính vì thế, việc tu tập không chỉ hướng về bên ngoài mà còn phải khắc phục từ trong tâm tính.

Tư Tưởng Tính Thanh Tịnh của Ngài Long Thọ (Nagarjuna)

Ngài Long Thọ được xem là nhà tiên phong trong các luận sư Phật giáo Ấn Độ, đã đưa ra những kiến giải về tư tưởng Tính Thanh Tịnh. Những trước tác hiện còn của Ngài liên hệ đến tư tưởng Tính Thanh Tịnh chủ yếu dựa vào hai bộ Kinh chính là Bát Nhã và Pháp Hoa. Tác phẩm Đại Trí Độ luận của Ngài có lẽ là bộ luận diễn giải về các pháp Ba-la-mật của Phật giáo Đại thừa đầy đủ và rõ ràng nhất.

Ngài Long Thọ giải thích rằng: Năng lực và trí tuệ của chúng sanh cõi Ta bà giống như chiếc bè mục trên biển, áp nước sôi để giữ bằng tuyết. Bè chưa đến được bờ đã bị tan rã, bị nhân chìm trong biển, nước chưa kịp dùng đã bị băng làm cho người lạnh. Chúng sanh cõi trần cũng vậy, sợ rằng trước khi đạt được bất thoái đã bị nhân chìm trong vũng lầy sanh tử.

Chỉ có cầu sanh về Tính Thanh Tịnh, thân cần chư Phật, đầy đủ thiện căn, trau dồi nhân duyên, phước đức, trách xa các ác, bất thiện pháp mới có thể mau chóng tu tập thành tựu. Theo Ngài Long Thọ, việc tu tập không chỉ dựa vào tự lực mà còn cần đến tha lực của các chư Phật.

Tính Thanh Tịnh là nơi tu tập lý tưởng cho những ai muốn vượt qua khổ đauTính Thanh Tịnh là nơi tu tập lý tưởng cho những ai muốn vượt qua khổ đau

Những Đặc Tính Cơ Bản của Tính Thanh Tịnh

Trong Kinh A Di ĐàVô Lượng Thọ có đề cập đến 6 đặc tính của Tính Thanh Tịnh như sau:

Thứ nhất là Cực lạc: Cực lạc là niệm vui cao tột. Xét về đặc tính này, Tính Thanh Tịnh và Cực lạc đồng nghĩa với nhau. Cho nên, Tính Thanh Tịnh là sự vững vàng, mà không có niệm vui nào cao tót hơn khi đã đoạn trừ được mỗi khổ đau, đạt được sự an tịnh trong tâm hồn.

Thứ hai là trang nghiêm, thanh tịnh: Chỉ cho Chính bảo là sự thanh tịnh và trang nghiêm của con người từ ăn mặc, nói ngang, cơ xứ đều vắng mặt tham, sân, si, giải đại… Và Y bảo là sự thanh tịnh và trang nghiêm của cảnh giới, thể hiện ở chất: Xã hội thì phồn thịnh, sung túc, bình an; Thiên nhiên, cảnh vật thì bằng phẳng, ngay thẳng, sang trọng, đẹp đẽ, thanh khiết…

Thứ ba là luôn hướng thượng: Nhờ gần gũi chư Phật, hiện Thánh mà được thuận duyên tu tập hướng đến tối thượng thừa. Tính Thanh Tịnh không phải cảnh giới sau khi sanh về chỉ lo hưởng thụ phước đức của mình, mà chính là nơi tạo thuận duyên cho sự tu tập của hình giả. Một hình ảnh rất đặc biệt của cõi Tính Thanh Tịnh chính là tòa sen to nhỏ, màu sắc, ánh sáng khác nhau dưới chân vị hình giả, thể hiện cho công phu tu tập sâu cạn của vị áy.

Thứ tư là hướng đến một xã hội Đạo Đức, luân lý, thành thiện: Tính Thanh Tịnh như một hình mẫu lý tưởng để xây dựng một đời sống phẩm hạ hành thanh tịnh qua việc đoạn tận các ái, thù, vô minh, giải thoát tất cả các lầu hoặc. Chúng sanh sanh về Tính Thanh Tịnh đều là những hình giả đi trên con đường của Giới, Định, Tuệ, được quả vị bất thoái chuyên, A La Hán, Bồ tát, thậm chí có vị là Nhất sanh bồ tát thành Phật. Điều này còn thể hiện tính nhất quán trong lộ trình tu tập và chứng ngộ của vị hình giả Phật giáo.

Thứ năm là Âm thanh lưu xuất từ tự tánh của chúng sanh và chư Phật: Âm thanh này chính là tự tánh vô thanh, phát xuất từ tự tánh niệm Phật của vị hình giả đã thuần thục trên con đường giải thoát và Âm thanh của chư Phật thuyết giảng chân phát. Âm thanh này có sức chuyển hóa mạnh mẽ đối với tự thân hình giả và cả những chúng sanh khác, vì nó lưu xuất từ trong bản thể thanh tịnh, vắng lặng. Âm thanh này thể hiện qua những hình ảnh chim thuyết pháp, tiếng gió thổi qua những hàng cây bảu… ở cõi Tính Thanh Tịnh được ghi lại trong Kinh A Di Đà.

Thứ sáu là thế giới của Nguyên lực: Nếu cõi Ta bà là thế giới của Nghiệp lực, thì cõi Tính Thanh Tịnh là thế giới của Nguyên lực thù thắng. Chính nguyên lực mạnh mẽ này sẽ giúp hình giả sắp lâm chung được đối nghịch vãng sanh. Đối nghịch giống như một khối đá dù lớn mà được chiếc bè chở đi thì không thể nào chìm xuống nước và dần dần sẽ bao mòn hết nhờ năng lực tu tập của hình giả.

Thông qua sáu đặc tính này, chúng ta như thấy cõi Tính Thanh Tịnh đang hiện hiện trước mắt mình. Giống như hình ảnh chiếc bè vững chắc cứu vớt chúng sanh, dù đang mang khối nghiệp nặng trĩu trên vai vẫn có thể thuận lợi tu tập, vượt qua biển sanh tử, đến được bến bờ của sự vô lậu, an vui, giải thoát.

Tính Thanh Tịnh trong Phật Giáo Việt Nam

Phá mãn Tính Thanh Tịnh ở tại Việt Nam ta đã có một lịch sử lâu dài, ít tách rời khỏi các phá mãn khác mà thường hòa quuyện cùng với Thiền tông và Mật tông. Sự không tách biệt độc lập này có lẽ do đặc tính của dân tộc ta. Trong truyền thống của Phật giáo Việt Nam, với sự ra đời, sinh hoạt và truyền thừa của các dòng Thiền, dầu là Thiền sư, nhưng trong việc thực hành đối sống tâm linh vẫn trì tụng các thần chủ và niệm danh hiệu Phật.

Đến nay, phá mãn Tính Thanh Tịnh hầu như phổ biến khắp đất nước ta, ngày càng ăn sâu và bền rễ trong lòng dân tộc, luôn đồng hành và tương trợ cùng với Thiền pháp và Mật pháp để tạo thành một Phật giáo đầy màu sắc của tính tùy duyên, hòa hợp.

Trong bối cảnh Phật tử Việt Nam ngày nay, việc tu tập Tính Thanh Tịnh không chỉ là một phương pháp tôn giáo mà còn là một cách sống đầy tính nhân văn, giúp chúng ta tìm thấy sự bình an, an lạc giữa những khó khăn của cuộc đời. Phương pháp này, với sự kết hợp giữa tự lực và tha lực, tạo nên một con đường tu tập khả thi và hiệu quả cho tất cả mọi người, bất kể căn cơ hay hoàn cảnh sống ra sao.

Ứng Dụng Tính Thanh Tịnh trong Đời Sống Hàng Ngày

Để thực hành phương pháp Tính Thanh Tịnh một cách hiệu quả, chúng ta cần ghi nhớ một số điểm quan trọng. Trước hết, phải phát tâm với sự chân thành và kiên định, không phải vì muốn thoát chạy khỏi cuộc sống mà là vì muốn tu tập để giác ngộ. Thứ hai, cần kết hợp hài hòa giữa trì niệm danh hiệu Phật và tu tập sáu Ba-la-mật trong cuộc sống hàng ngày. Thứ ba, phải tin tưởng vào tha lực của chư Phật, biết rằng chúng ta không đơn độc trên con đường tu tập này.

Việc tu tập Tính Thanh Tịnh cũng đồng nghĩa với việc xây dựng một t

Related posts

Thiền Định An Cư Mùa Mưa: Con Đường Tu Tập Của Thánh Nhân

Administrator

Hoa Mai Trong Thơ Trần Nhân Tông: Tình Yêu và Tâm Linh

Administrator

Sự Hóa Độ Rộng Lớn và Cùng Khắp của Đức Phật

Administrator